Trang chủ 02-Tổ Trí Hải Khoa cúng Đức Tổ Sư Thích Trí Hải

Khoa cúng Đức Tổ Sư Thích Trí Hải

260
0

KHOA CÚNG ĐỨC TỔ SƯ
THÍCH TRÍ HẢI

Kính dâng ngày giỗ lần thứ 36
Đức Tổ Sư THÍCH thượng TRÍ hạ HẢI

KHOA CÚNG ĐỨC TỔ SƯ
THÍCH TRÍ HẢI
—*—

Chiên đàn trầm quí
Ngạt ngào mùi hương
Cuồn cuộn tỏa khắp cả mười phương
Khí lành trinh tường
Cảm ứng khôn lường
Phúc thọ không biên cương.

Nam mô hương mây tỏa cúng dường Bồ Tát.

Rằng nay:

Hương hoa trang trọng, thức cúng biện bày
Đệ tử chí thành, tấc lòng kính lễ:

Nam Hà sử nói Cổ Châu thành
Bao đấng hiền nhân vùng đất sinh
Hải hậu nước dâng nguồn thịnh khí
Quần phương mạch chảy bậc kỳ anh
Đoàn môn rạng rỡ ngời thiền phổ
Phật giáo canh tân ngát thế danh
Son sắt tinh thần, trời đất đổi
Nhân gian mến đức hưởng thanh bình.

Nam mô bậc thầy độ chúng sinh Bồ Tát ma ha tát.

Thiết nghĩ:

Tâm tịnh thì quốc độ tịnh, há cần phải nước pháp để thấm nhuần; Nhân không thời chư pháp không, đâu nhờ có cành dương làm sái tịnh. Chỉ vì chấp lý bỏ sự từ đó phương tiện cho quyền giáo ra đời; Lại bởi theo vọng quên chân do đây nhân duyên khiến thực môn xuất hiện. Tất cả các pháp đều là Phật pháp, hà sa vi trần vốn chẳng phải trần. Hôm nay: tiệc trai bày biện, tín hương ngạt ngào. Muốn cho đàn tràng thanh tịnh, xin mượn nước pháp tẩy trừ. Dòng nước chảy từ đâu: rằng bắt nguồn từ biển tự tính, mà khởi mạch đến cõi liên trì. Bản chất không nhiễm không dơ, thực thể rất trong rất tĩnh. Từ nguồn cội tuôn ra: mênh mông cho cõi trời tự chan hòa, mênh mang mà cõi người cứ khô hạn. Muôn nhờ một điềm dương chi, cốt rửa vô biên trần cấu. Chân ngôn mật chú Phật ban ơn, âm thiêng bí kệ lòng thành tụng:

Cành dương điểm tịnh mở tâm kinh
Tầy rửa trần ô dứt tục tình
Tam giới thấm nhuần cam lộ mát
Từ đây nhà lửa thật an ninh.

Nam mô làm mát rượi khắp thế gian Bồ Tát ma ha tát.

Kính nghe:

Mây mù tỏa núi khe, ráng trời soi vũ trụ. Hoa xuân mừng chồi non, thoang thoảng khói lành lan thơm phức; trăng thu buồn ánh mờ, ngan ngát khí mát sen ngạt ngào.

Bẩm sinh từ tiên thiên, há cần long thần hộ niệm; Thơm nức khắp đại địa, do vì Bồ Tát huân tu. Kiếm tuệ chém ưu phiền, mà lưỡi dao giới bén, khói lên lư vàng; Nước định thấm khổ đau, cho lửa tam muội tỏa, cuộn thành lọng báu. Phong cách bạt tụy, do từ lâu nhờ mưa pháp thấm nhuần; Thể chất thanh cao, bởi kiếp xưa được mây lành che chở. Trầm quí miếng miếng chợt đốt lên lư hỏa, một dòng khí thông; Khói thơm lớp lớp đã cuộn thẳng đến mây báu, nhiều đời nghiệp dứt. Như Lai trao cho nhiên hương chân ngôn, lòng son thầm tụng âm thiêng linh diệu:

Tạo hóa gây nên núi đá thiền
Trân kỳ dị thảo rất thiên nhiên
Càn khôn hang ẩn mây đài hiện
Chứng giám tấc lòng lên thánh hiền.

Kính nghe:

Pháp thân lặng lẽ, chân tính sâu xa. Khi đi khi đến, đâu nhiễm trần ô; lúc ẩn lúc hiện, thường soi nhật nguyệt. Bao la thảy vạn tượng mà vượt lên tam giới, đó là chân; thấu triệt hết tam không để chứng nhập nhất thừa, vậy là diệu. Đời này qua đời nọ, nguyện lực càng sâu tâm lượng càng lớn; kiếp trước đến kiếp sau, nhân tu được thỏa quả chứng được tròn. Sa Bà Tịnh độ xem như nhau, thiên giới nhân hoàn nhìn khác biệt. Đài sen cửu phẩm đâu xa, tấc lòng ứng cảm thật dễ. Soi xét lòng son, chứng giám lời nguyện. Chân ngôn triệu thỉnh một đường, mật chú tụng trì dăm biến:

Nam mô Bộ Bộ đế
Hương hoa thỉnh,
Nhất tâm phụng thỉnh.

Hà Nam Ninh là sinh quán, núi cao biển rộng sông dài; Quần phương trung vốn danh hương, người tài đất linh mạch quí. Đoàn môn dòng dõi trải bao đời nghề nông lạc đạo thú canh điền; Gia nghiệp nếp nề giữ truyền thống kỹ nghệ tu thân chăm vun gốc. Tính người thanh cao, tư chất trí tuệ thông minh; Tâm địa đôn thuần, phong thái hiền nhân độ lượng. Tuổi mới thanh xuân đã dửng dưng trước chức trọng quyền cao; Chí rất quật cường không màng mơ đến mùi danh bả lợi. Đốt lửa tam muội, thiêu tàn mây mờ hắc ám; dương cung trí tuệ, bắn tan màng tối bạo tàn. Năm Nhâm Tuất, tiết Mạnh đông, tuổi vừa mười bảy, đầu thiền chùa Mai Xá, bái yết Hòa thượng nguyện cầu tùng Phật xuất gia; Cũng năm ấy, tiết Trọng Đông, ngày đẹp mùng một, cầu đạo chốn Sùng Khánh, ngưỡng vọng Tôn sư ban ân nhuộm y thế phát. Từ đó, cơm cà dưa muối, khổ hạnh thanh trai; Cùng là, đầu tròn áo vuông, nâu sòng thoát tục. Thế rồi, từng ngày luyện tính tham thiền; Để cho, muôn năm bội trần hợp giác.

Cung duy:

Nam mô Trừng Viên tháp ma ha tỳ khiêu Bồ Tát giới pháp húy Thích Thanh Thao đạo hiệu Trí Hải thiền sư nhục thân Bồ Tát thiền tọa hạ.

Duy nguyện:

Cảnh trần tịch lặng mây đầu núi
Tâm thiền an nhiên nguyệt treo không
Thỉnh giáng thiền sàng chứng minh công đức.
Hương hoa thỉnh,
Nhất tâm phụng thỉnh,

Rằng xưa, đầu thiền chính tín, Ngài một lòng tiến đạo nghiêm thân; Rằng trước, xả ngụy tòng chân, người dốc chí thâu tâm luyện tính. Lên mười bảy, Sa Di bẩm thọ chốn Tế Xuyên; Khi hai mươi cụ túc đăng đàn chùa Mai Xá. Kinh điển cổ kinh nghiên cứu, văn hóa đông tây sưu tầm. Than ôi! Phật pháp gặp buổi thời mạt, cảnh tượng điêu linh; Tăng già nhằm lúc vận suy, luân thường đồi trụy. Nếu không kịp thời cứu vãn, lâu ngày thật khó thay; Làm sao chung sức giải nguy, để sớm mong hoàn mỹ. Tồ chức tập hợp lục hòa tịnh lữ, phiên dịch kinh văn tiếng Việt, truyền bá giáo lý tinh thần; Vận động thành lập Phật giáo Tùng Lâm, sưu tầm thư tịch Hán Nôm, bảo tồn văn hóa kim cổ. Đến năm Giáp Tuất, sáng lập Tổng Hội Bắc kỳ Phật Giáo chấn hưng, để vãn hồi thế đạo nhân tâm; Qua năm Bính Tý, tổ chức suy tôn thiền gia Pháp Chủ trang nghiêm, hầu duy trì kỷ cương Phật pháp. Trung học Phật giáo lập tại Thịnh Quang, đào tạo thế hệ tăng tài; Cao đẳng Phật học dựng nơi Bồ Đề, phát huy giáo lý Tam Tạng. Quyết định xuất dương nhằm sưu tầm văn học nước ngoài để cung cấp cho tương lai; Thực hiện du học mong khắc phục tinh thần cải cách hầu bổ sung thêm tài liệu. Lịch trình đã định, lại vượt đại dương đến Hương Cảng, thẳng đến Giang Tô theo học Tùng Lâm Phật học nghiên cứu giáo lý cổ kim; Hành trình tiếp tục, liền băng Dương Tử qua Nam Kinh, ghé vào Thượng Hải tham học Tiêu Sơn Phật học sưu khảo kinh văn luật luận. Quả chín nhân thơm; Công thành danh toại. Trở về cố quốc, thực hiện sáng lập chương trình; Tại ngay Thăng Long, thi công hưng duyên kiến thiết. Chùa Quán Sứ công trình xây dựng vĩ đại, khai sơn phá thạch quy mô, cách thức tân kỳ; Núi Yên Tử danh lam cổ tích giá trị, Điện vàng cung ngọc phục hồi, thay cũ đổi mới. Bồ Đề cảnh cũ gió táp mưa sa, tái thiết trang nghiêm; Hương Hải chốn xưa, ngày qua tháng lại, chung sức gìn giữ. Trụ sở giao lưu Phật giáo quốc tế, thể thức quy mô, coi là Tùng Lâm đối ngoại vùng Thường Tín; Kinh tế tự túc tăng già chủ quyền, cơ đồ vĩ đại, xem như Nghĩa Thương chiến lược đất Quỳnh Côi. Nghĩa địa sáng lập tại Chính Kính, đất hoang khai khẩn nơi Uông Bí. Vì lòng trắc ẩn nuôi dưỡng cô nhi, bởi nguyện độ sinh bảo bọc người khó. Học xá Vạn Hạnh – Hàm Long kiến thiết nhất định thời gian, giảng đường Phật giáo – Hải Phòng xây dựng không ngày hoàn tất. Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam thành lập tại Thừa Thiên; Toàn quốc Tăng Già Đại Hội hình thành nơi Quán Sứ. Giác mơ chỉnh lý tăng lâm, ước nguyện nhân gian Phật hóa. Nên việc do Trời, mưu đồ tại mình. Than ôi! hai mươi năm diện bích, xem nhân tâm thế cục như tuồng kịch mộng điệp sắc không; Một dòng buồn thâm sâu, xin sự nghiệp thanh danh có núi sông nhật nguyệt minh chứng. Công như vậy, quả như vậy, khắc ghi tấm lòng son; Thời phải thế, thế phải thế, lưu dấu trang Phật sử. Núi sông có nhật nguyệt, chung thủy vốn xưa nay.

Cung duy:

Nam mô Trừng Viên tháp ma ha tỳ khiêu Bồ Tát giới pháp húy Thích Thanh Thao đạo hiệu Trí Hải thiền sư nhục thân Bồ Tát thiền tọa hạ.

Duy nguyện:

Biển khổ mênh mang sầu vô hạn
Tâm thiền tịnh mịch lệ khôn nguôi.

Thỉnh giáng thiền sàng. Chứng minh công đức
Hương Hoa thỉnh
Nhất tâm phụng thỉnh.

Nhánh pháp dòng Tào Khê, vạn con nước cuồn cuộn nổi sóng sầu; Gốc thiền biển Lâm Tế, Quần Phương Trung mịt mù tuôn lệ chảy. Đất Quán Sứ tụ hội bậc kỳ anh, bao danh nhân thạc đức sầu thương; Chốn Tế Xuyên kế truyền chư thiền tổ, ngàn cỏ cây hoa cành thảm lệ. Chùa Bồ Đề nổi tiếng danh lam thắng tích đất Thăng Long, hạc khóc tiêu điều; Núi Yên Tử nức danh Bích Động vân tiêu cõi Điều Ngự, khói bay tịch mịch. Núi cao mây mù tỏa, sáng sương chiều tuyết hoang vu; Biển thơm sóng con vỗ, khe biếc suối trong lặng lẽ. Cảnh Mai Xá u tịch, quyên gọi hoa rơi, không ngăn được lệ sầu lai láng; Giảng đường bảo tọa tang thương, trống lặng chuông im, sao dứt được gió buồn vi vu. Thành mất chủ tướng, thuyền vắng tay chèo. Than ôi! Tăng lâm tịch mịch, âm thanh tiếng nói đâu còn nghe; Thương ơi! bảo tọa thê lương, tích trượng thần châu sao không thấy. Hạc bay một sớm, nỗi nhớ ngàn năm.

Cung duy:

Nam mô Trừng Viên tháp ma ha tỳ khiêu Bồ Tát giới pháp húy Thích Thanh Thao đạo hiệu Trí Hải thiền sư nhục thân Bồ Tát thiền tọa hạ.

Duy nguyện:

Nước lặng trăng treo sầu vô hạn
Tâm thiền ngọc sáng chiếu vô minh.

Thỉnh giáng thiền sàng. Chứng minh công đức
Hương Hoa thỉnh
Nhất tâm phụng thỉnh

Sơn môn tiên giác, pháp phái hậu hiền, quá khứ kế đăng, vị lai tục diệm; Cùng thoát bể khổ sa bà; Đồng lên cửa hoa bát nhã.

Cung duy:

Nam mô tiền khai sáng hậu khai sáng già lam tỳ khiêu, tỳ khiêu ni, thức xoa, sa di, sa di ni, ưu bà tắc, ưu bà di, phổ cập thiền đồ thất chúng nhân đẳng.

Duy nguyện:

Thanh ứng khí cầu thơm bát nhã
Tinh thần tụ hội mướt Bồ Đề

Thỉnh giáng thiền sàng. Chứng minh công đức
Hương hoa thỉnh
Nhất tâm phụng thỉnh

Bậc trước tạo nền, người sau vun gốc. Tích góp âm đức do tiên tổ, để lại phúc ấm cho cháu con. Cây có gốc nước có nguồn; Nhánh từ nguồn, cành từ cội. Xum xuê cành lá hằng trăm đời, công đức khôn kể; Hưng thịnh cháu con bao ngàn năm, hiền hiếu như nhau. Dòng trâm bào cốt cách, đất thi lễ nếp nề. Nhớ câu ‘thiên kinh địa nghĩa’, thân sơ đâu khác; Nghĩ lời ‘giản mao minh thủy’, thương kính đậm đà. Có cảm thì mới ứng, có thành thời mới cách.

Cung duy:

Đoàn môn đường thượng lịch đại tiên tổ khảo tỷ bá thúc huynh đệ cô dì tỷ muội nhất thiết nội ngoại đẳng chư hương hồn.

Giác linh khảo tỷ: chân linh Đoàn Văn Đích tự Phúc Thực; chân linh Nguyễn Thị Tuất hiệu Diệu Mậu.

Duy nguyện:   Ba canh nguyệt lạnh quyên còn khóc
Ngàn dặm mây trôi hạc bay xa.

Thỉnh giáng thiền đường. Lãnh chiêm công đức

Lễ đã cung nghinh, giáng hạ quang lâm. Chân ngôn an tọa một đường, kệ văn trì tụng vài chữ:

Yên Tử Bồ Đề nổi tiếng vang
Pháp thân bàng bạc giữa mây ngàn
Tế Xuyên Mai Xá từng thu nhớ
Duy nguyện mây đưa giáng tịnh đàn.

Nam mô mây đưa giáng đàn Bồ Tát ma ha tát

Bao nhiêu thức cúng, bấy nhiêu hương trai, dâng cúng giác linh, cúi xin nạp thọ.

Biến thực biến thủy chân ngôn một dòng; dâng hoa dâng quả linh văn dăm tiếng:

Nam mô phổ cúng dường Bồ Tát ma ha tát
Hiến cúng đã xong, sớ văn tuyên đọc.
Nam mô quán tự tại Bồ tát ma ha tát

Buồn thay!

Quang âm một thoáng, chẳng giữ nổi bóng câu; Tâm sự ngàn năm, đã mất dấu cánh hạc. Mây mờ tuệ nhật, mưa che đàm hoa.

Ô hô! Đức tổ ta, dòng dõi họ Đoàn, đạo đức rất mực, danh lợi chẳng màng, sắc không chú ý. Công thành quả mãn, xe ngưu chợt rước về trời tây; Thoát tục vào dòng, cánh hạc vụt đưa lên bờ giác. Nhớ về Mai Xá cảnh cũ đầu thiền, không còn ngày ấy; Chạnh tưởng Tế Xuyên chốn xưa đắc giới, chẳng như hôm nay.

Trông lên

Bóng tôn sư khi ở Quán Sứ hề! Ruộng dâu biển xanh. Trông lên bóng tôn sư khi ở Mai Xá hề! Vật đổi sao dời. Cao Phong hề! gió sớm trăng khuya. Hương hải hề! sầu lên Nam Hải. Côn Sơn hề! đá trắng trời chiều. Yên Tử Sơn hề! rêu phủ buồn hiu. Bồ Đề hề! hoa cỏ tạ tình. Trông lên bóng Tôn Sư khi ở Hải phòng Phật Giáo giảng đường hề! chân dung đâu còn. Trông lên bóng tôn sư, khi thăm miền Nam Vĩnh Nghiêm tổ đình hề! Giọt lệ thiên thu. Ngữa trông tích trượng bay giữa ngàn mây, bóng mây ảm đạm; Nhìn lên chân dung mờ dưới nguyệt lạnh, sắc nguyệt đê mê. Tiếng chuông nghe não nuột thiền đường, âm mõ tụng trầm ngâm bảo tọa. Cửa tùng tịch mịch, phạm vũ thê lương. Quyên khóc hề cành trúc! hạc kêu hề bóng tùng.

Đất Thăng Long sương mù mây phủ đâu bóng nguyệt! chốn Nam Hải sóng im nước lặng không gió xuân, sầu dâng hoa trí tuệ, hận phủ bóng Bồ đề. Nghe gió thổi cành tùng than thở, trông sao đêm đổi ngôi buồn ơi! hoa tạng chứng tri, huyền văn phụng tống.

Kệ phụng tống:

Tấc dạ cảm thương sự nghiệp thành
Chân không liễu ngộ bậc vô sinh
Đài Sơn rực lửa mình thanh thản
Bách bảo phóng quang tâm lặng thinh
Tám đức suối thơm lừng nghiệp tịnh
Chín tầng sen nở ngát trần thanh
Bồ Đề Quán Sứ từng thu chết
Tấc dạ cảm thương sự nghiệp thành.

Nam mô sinh về cõi hoa sen Bồ Tát ma ha tát.

PL.2520
Năm Đinh Tỵ 1977
Hòa Thượng Thích Hoài Đức
soạn nguyên chữ Hán.
PL.2557
Năm Quý Tỵ 2013
Pháp tôn Thích Thanh Tùng
đảnh lễ biên dịch tiếng Việt.

SỚ TIẾN GIÁC LINH

PHỤC DĨ

Thời gian trôi qua lặng lẽ đâu quên hiếu nghĩa thâm tình, ngày giỗ đã về thấm thoát xin tỏ ăn sâu tưởng nhớ. Tấm lòng trước sau không khác, nỗi sầu xưa nay chẳng phai.

Nay chúng con là : Thích Thanh Tùng, Thích Giác Hội, Thích Trí Diệu cùng hết thảy mọi người môn đồ pháp quyến Phật tử mười phương có mặt nơi đây trước ngôi tổ đường, nhất tâm đảnh lễ chư vị Tổ Sư thùy từ chứng giám.

Chúng con thành kính thiết lễ truy tiến Tôn Sư Ma Ha Tỳ Khiêu Bồ Tát giới pháp húy : Thích thượng Trí hạ Hải đạo hiệu Thanh Thao.

Sinh năm : Bính Ngọ
Trụ thế     : Bảy mươi bốn tuổi
Viên tịch ngày : Mùng 7 tháng 6 năm Kỷ Mùi

Trộm nghĩ : Tôn Sư chúng con – lòng mở bao dung như trời rộng, tính lặng sâu xa tợ nguyệt soi. Thấu ngộ tam huyền, tam yếu, tam tâm mà vào cõi tam không; Bước lên tứ thánh, tứ đế, tứ quả để tắm dòng tứ trí. Sừng thỏ mơ hồ chỉ là hoa đốm, lông rùa mông lung vốn dĩ sắc không. Bơi thuyền từ trên biển trí, vượt bể khổ đến bờ kia. Hôm nay ngày giỗ chúng con tấc lòng hướng về thành khẩn lệ rơi, đúng lúc giờ cúng đệ tử lễ nghi dâng lên đậm tình mây bạc.

Cung duy : Nam mô Tây Thiên Đông Độ Việt Nam Lịch Đại Tổ Sư Chư Vị Bồ Tát.

Ngưỡng trông:

Tôn Đức chứng minh, uy quang giám cách. Mở tuệ trí để mắt thánh sáng soi, nhận lòng thành của tâm phàm son sắt.

Lại nguyện:

Đạo tâm lồng lộng, giáo thể nguy nga. Tổ ấn trao truyền tiếng thơm đời đời để đàm hoa ngào ngạt, tông môn kế thừa vang vẻ kiếp kiếp cho đuốc tuệ sáng chưng. Đưa chúng sinh quyến thuộc vào biển thiện duyên, dẫn tứ chúng đàn na hưởng ân Phật Tổ.

Phổ nguyện:

Chư vị giác linh tiên triết hậu hiền, tông môn pháp pháỉ, cùng là cha mẹ Chân linh Đoàn Văn Đích tự Phúc Thực – 25.12.ÂL; Chân linh Nguyễn Thị Tuất hiệu Diệu Mậu – 07.4.ÂL, ông bà tổ tiên nội ngoại, pháp giới chúng sinh nhờ phức duyên lành được sinh cõi Phật.

Vận trời, ngày_ tháng__ năm______
Đệ tử chúng con thành tâm kính dâng sớ tấu