Trang chủ 02-Tổ Trí Hải Phật học ngụ ngôn (Bài 1- Bài 10)

Phật học ngụ ngôn (Bài 1- Bài 10)

1092
0

LỜI GIỚI THIỆU

Ngụ ngôn là loại hình phổ biến của sáng tác dân gian và văn học viết của các dân tộc trên thế giới có nội dung xúc tích, ý nghĩa sâu sắc nhiều tầng, đặc biệt chú trọng đến giáo huấn. Ngụ ngôn mang tính thời đại, tính dân tộc khá đậm.

Người Việt Nam đầu tiên nghiên cứu ngụ ngôn công phu có lẽ là Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc (1890-1942) soạn giả bộ Đông Tây ngụ ngôn gồm 2 quyển xuất bản năm 1927. Theo ông, gốc tích ngụ ngôn có rất sớm nên cũng “…vì cái gốc tích tối cổ như thế, mà các nơi sản xuất ra ngụ ngôn thực không biết dò vào đâu cho chắc đúng. Người ta không sao đoán dịch chắc rằng ngụ ngôn chỉ có riêng ở một phương nào, hay chỉ một xứ nào đặt ra được mà thôi, ta cũng không sao quả quyết hẳn rằng bài ngụ ngôn nào là chính của tác giả nào nghĩ ra trước, hay chỉ có một tác giả nào có thể làm được mà thôi …”

Cùng thời với Nguyễn Văn Ngọc, Đồ Nam Tứ Nguyễn Trọng Luật (1883-1940) cho đăng tải những bài thơ ngụ ngôn do ông soạn và những bài ngụ ngôn cổ nước Tàu và nước ta do ông diễn dịch. Những bài này, năm 1928 soạn giả cho in thành sách gồm 2 quyển do nhà in Chân Phương Hà Nội in.

Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) dịch giả cuốn Thơ ngụ ngôn La Fontaine, Nhà xuất bản Trung Bắc Tân Văn, Hà Nội, 1928: “Tập dịch văn này tôi làm ra kể đã lâu lắm rồi khi còn ít tuổi … “

Như vậy, vào những năm đầu thập kỷ hai mươi của thế kỷ trước, một số học giả nước ta đã quan tâm nghiên cứu thơ văn ngụ ngôn của Việt Nam và thế giới nhằm giáo huấn và góp phần xây dựng nền quốc học lúc tư tưởng Âu Tây du nhập, phát triển mạnh mẽ.

Riêng Nguyễn Văn Ngọc có ý kiến đặc sắc: “Đông phương có ngụ ngôn sớm hơn Tây phương và Tàu và Ấn Độ là hai nước có ngụ ngôn sớm nhất ở Á Đông. Nếu đọc kinh Phật, ta sẽ thấy Đức Thích Ca lúc thuyết pháp, cũng thường dẫn truyện nhiều loài vật và cây cối để các tín đồ dễ hiểu đạo mình. Ở Ấn Độ người ta thường coi Bidpai (hay Pilpay) là ông tổ lối văn ngụ ngôn. Nhưng tiểu sử này rất mờ mịt, không biết ông sống vào thời đại nào và ở nơi nào tại Ấn Độ, người ta chỉ biết là nhà tu hành và đã từng giúp vua Dabchélim. Ông có soạn một quyển sách bằng chữ Phạn truyền ở đời, nói về loài vật và nhan đề là Pantchatantra (Ngũ thư). Quyển này hình như vẫn còn và được coi là một quyển ngụ ngôn cổ nhất thế giới. Người ta đã đem dịch quyển Ngũ thư ra rất nhiều thứ tiếng, truyền sang Tây Tạng, sang Tàu, sang Ba Tư ( Iran), rồi sang cả Hy Lạp và La Mã … Ấy, ngụ ngôn phát khởi tại Ấn Độ rồi truyền sang Tây phương, nghĩa là truyền sang Châu Âu đại để là như thế. Còn ngụ ngôn từ Ấn Độ truyền sang Á Đông như thế nào, ta không được rõ vì ta không biết khảo vào đâu cho tường. Ta chỉ chắc rằng ngụ ngôn, nếu thực từ Ấn Độ phát ra trước mà có thể lan sang mấy nước Á Đông ta được, thì tất phải theo đạo Thích cùng nhời thuyết minh kinh kệ mà sang”.(Tựa sách Đông Tây ngụ ngôn).

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Phật giáo du nhập đầu tiên vào Nê Lê (Đồ Sơn, Hải Phòng) trước công nguyên. Từ đây truyền lên Luy Lâu (Dâu, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh), từ Luy Lâu truyền sang Bành Thành, Lạc Dương, Trung Quốc. Vậy dân ta, Phật tử nước ta cũng sớm được nghe truyện loài vật và cây cối mà Đức Phật Thích Ca dẫn dụ khi thuyết pháp. Do đó, những truyện ngụ ngôn sớm nhất của Hy lạp với những nhân vật Ésope thế kỷ IV trước công nguyên cũng muộn hơn nhiều.

Sa môn Trí Hải, nhà Phật học uyên thâm rất quan tâm tới công tác giáo dục theo tông chỉ Phật tổ đã diễn dịch 100 bài ngụ ngôn hợp thành quyển sách Phật học ngụ ngôn bằng thể văn dân tộc lục bát. Có thể nói Sa môn Trí Hải là người Việt Nam đầu tiên diễn dịch ngụ ngôn Phật học ra quốc âm.

Tôi ít am tường về Phật pháp, nhưng vì kính tín ngưỡng mộ bậc cao tăng thạc đức đương đại cố Đại lão Hòa thượng Thích Trí Hải (1906-1979) nên mạo muội viết lời giới thiệu sơ lược tác phẩm của Ngài. Kính mong các bậc thiện tri thức cảm thông, chỉ giáo.

                                                                          Ngày tốt, trọng đông Mậu Tý

                                                                                    PL2553 – DL 08

                                                                                       Ngô đăng Lợi

                                                                        Chủ tịch Hội Sử học Hải Phòng.

01_Ten sach

Mào Đầu
Chân như Đạo Phật nhiệm mầu,
Trời cao khôn sánh biển sâu nào bằng.
Nhiều người muốn hiểu rõ ràng,
Mới xem thấy khó vội vàng rút lui.
Khác nào đi tới biển khơi,
Thấy mênh mông vội thở dài bỏ qua.
Hay đâu Phật pháp cao xa,
Song đường phương tiện phải đà ít lâu.
Muốn cho như ý sở cầu,
Phật đem tỷ dụ cao sâu hóa gần.
Ví như thuốc đắng khó ăn,
Khéo đem mật ngọt bọc lần ngoài cho.
Bệnh nhân hết sợ khỏi lo,,
Nuốt như nuốt chuối dễ hồ khó đâu.
Sách này xem rõ gót đầu,
Mới hay Phật pháp nhiệm mầu cao xa.
Dịch thành ra tiếng nước nhà
Cốt mong ai nấy hiểu mà tu thân.
Khỏi lầm như lũ ngu đần,
Đem thân vàng ngọc làm thân đọa đầy.
Xem rồi xét rõ dở hay,
Mê lầm sạch hết mẩy may chẳng còn.
Dãi tấm lòng son
Ngày 13 tháng 5 Đinh Hợi

Phật học ngụ ngôn (Bài 1 – Bài 10)

1. Chàng Ngốc Ăn Muối
Chàng ngốc nọ đang ngồi dự tiệc
Cổ nhạt phèo anh chép miệng chê:
Muối cho thêm chỉ ti ti,
Đúng liều đúng vị cực kỳ thơm ngon.
Cũng học đòi tưởng khôn hơn rận,
Anh ăn toàn muối trắng một khi,
Môi sưng ruột sót lưỡi tê
Khác nào những kẻ tu kia nhầm đường.
Bảo bớt ăn nhẹ nhàng thân thể,
Nhịn hẳn thành chết dễ ai khen.
Thương thay cho kẻ đê hèn,
Đã ngu si lại đua chen học đòi.
1-01 chang ngoc an muoi2. Để Dành Sữa
Chàng kia sắp họp bạn chơi,
Nghĩ phương để sữa bò nuôi trong nhà.
Bụng bảo dạ lấy ra khó để,
Khi nào dùng ta sẽ vắt ra,
Bê con đem buộc cách xa,
Trải qua một tháng, khách đà tới nơi.
Đem bò vắt ôi thôi: khô hết!
Mặt chàng liền như tiết đỏ gay.
Khác nào người ở đời này,
Định làm phúc lại đợi ngày giầu thêm.
Có hay đâu của bên mình đó,
Biết bao người nhòm ngó chung quanh
Nước sôi, lửa tắt, trộm rình,
Vua, con, giặc phá tan tành như chơi.
Lúc đó dẫu tài giỏi khôn giữ,
Phúc muốn làm liệu trở kịp không?
Nên chăng lòng tự hỏi lòng,
Như anh để sữa dễ hòng được sao.
1-02 de danh suai3. Khổ Vì Lợi
Đầu chàng ngu đã trọc rồi,
Bị người đánh đập vẫn ngồi trơ trơ.
Có ai hỏi: sao mà không tránh,
Chàng bảo rằng người đánh là ngu.
Rõ ràng họ bị nhầm to,
Đầu đây tưởng đá gõ cho thỏa lòng.
Ai nghe thấy đều không nín nổi,
Cũng cho là ăn nói vẩn vơ,
Đi chê người đánh là khờ,
Rước lấy đau khổ để nhơ nhuốc mình.
Nếu tránh đi thanh danh biết mấy,
Bụt trên tòa gà nhảy lên sao,
Tựu người tu giới bỏ liều,
Hễ thấy danh lợi là gieo mình vào.
Song kết cục lợi nào có được,
Vòng luôn hồi càng bước càng sa.
1-03 kho vi loi4. Không Nghe Lời Chính
Vợ chàng kia đẹp tuyệt vời,
Nhưng lòng ăn ở ra người lẳng lơ.
Chữ trinh đã trót mờ để ố,
Bỏ chồng theo gã nọ lên đường.
Nhờ lão bà lập một phương,
Vắng chồng đem gái chết trương vào nhà.
Chồng về nhà thấy nhận là vợ chết,
Ngậm ngùi thương lo việc chạy ma.
Đốt xương đem để trong nhà
Ngày đêm thương nhớ xót xa nỗi niềm.
Tình bất chính yêu bền sao nổi,
Lân la về xin nói ở nhà,
Chồng rằng vợ chết ở xa,
Người đâu ăn nói thực là quàng xiên.
Cố nài cũng không tin một chút,
Chẳng khác chi người trót theo tà,
Đường nhầm quá bước đã sa,
Lòng mà mê hoặc khó mà đổi thay.
1-04 khong nghe loi chinh5. Chết Khát Bên Sông
Chàng kia khác đến cực kỳ,
Mong đi tìm nước tức thì tới sông.
Đến bờ thấy mênh mông đứng thở,
Giục uống, chàng lắc cổ không nghe,
Chàng rằng ông uống vợi đi,
Rồi tôi sẽ uống không thì hết sao.
Ai thấy cũng xôn xao cười nói
Ở đời còn ngu dại nào hơn.
Ví người chẳng hiểu nguồn cơn,
Bo bo giữ lý cỏn con của mình.
Thấy Phật pháp làm thinh chẳng ngó,
Để thân tâm bị khổ đời đời,
Lòng này nên xét lại coi
Muốn được giải thoát phải lui nghĩ xằng.
1-05 chet khat ben song
6. Có Lỗi Ngại Đổi
Chàng kia có bảy đứa con,
Vừa chết mất một để luôn trong nhà.
Ai nghe biết đều là khuyên nhủ,
Phải mau mau tìm chỗ chôn đi.
Chàng rằng nếu quả thế thì,
Giết thêm con nữa gánh đi mới thành.
Chẳng khác kẻ tu hành phạm giới
Bạn khuyên nên sám hối ngay đi.
Rằng: Tôi vội sám tôi chi,
Hãy phá giới hết rồi thì sẽ hay.
1-06 co loi ngai doi7. Nhận Người Làm Anh
Thấy người trí tuệ khôi ngô
Thông minh, giầu có cơ đồ nguy nga.
Chàng ngốc nhận đấy là anh hắn,
Thấy nợ đòi chàng lẩn mặt ngay.
Có người muốn biết dở, hay,
Hỏi chàng, chàng nói trắng ngay rõ ràng.
Thấy người sang bắt quàng làm họ,
Cũng như người mượn cớ xưa nay,
Thấy lời Phật nói là hay,
Liền ăn cắp lấy nhận ngay của mình.
Có người bảo chí thành theo đấy,
Cố tu hành để lấy phúc sau.
Rằng: Tôi phải thực tu đâu,
Tu đây chỉ cốt mưu cầu lợi danh.
1-07 nhan nguoi lam anh8. Ăn Cắp Đạo Lý
Sơn Khương ăn trộm áo vua,
Quả tang vua hỏi áo đồ đâu đây?
Chàng rằng: Chính ông cha để lại,
Vua phán rằng: Mày hãy mặc đây.
Chàng liền xỏ chân vào tay,
Vạt quàng lên cổ ai ai cũng cười.
Vua thét mắng con người gian lận,
Sự rõ ràng khôn giấu nữa thôi.
Khác nào kẻ ăn cắp lời,
Ở trong kinh Phật tìm tòi trích ra.
Dám tự nhận ấy là mình tạo,
Lại làm cho giở giáo những lời,
Mưu mô cốt để dối đời,
Khi bị người biết giấu đuôi hở đầu.
1-08 an cap dao ly9. Khen Rởm
Đương ngồi trong đám đông vui,
Bàn xem đức hạnh của người nào hay.
Người rằng: Cha của tôi đây,
Nhân từ, phúc hậu, thảo ngay hiền hòa.
Một niềm trung chính thật thà,
Lại chăm bố thí, dễ mà ai hơn.
Chàng ngu cười nói nhơn nhơn,
Cha tôi từ thuở lớn khôn đến già,
Không hề gần với đàn bà?
Nết na như thế mới là đáng khen.
Dứt lời ai nấy cười liền,
Cha anh như thế thần tiên lắm rồi.
Như anh thực mới lạ đời,
Đứt dây rơi xuống làm người phải chăng.
Chàng ngu hết chỗ nói năng,
Chỉ hay khen rởm thà đừng khen hơn.
1-09 khen rom10. Vượt Bậc
Chàng ngu trông thấy người giầu,
Ba tầng chót vót, nhà lầu nguy nga.
Chàng tự nghĩ dễ ta chịu kém,
Cố lần mò mà kiếm thợ ngay,
Bảo làm nhà đúng kiểu đây,
Thợ vừa đắp móng dựng xây lên dần.
Chàng liền bảo: Không cần tầng thấp,
Chỉ làm tầng trên nhất cho tôi,
Ai nghe thấy cũng phì cười,
Không hai tầng dưới đứng ngồi vào đâu.
Chẳng khác kẻ sinh sau đẻ muộn,
Biếng lười mà lại muốn ngôi cao.
Khôn dễ được nào!
1-10 vuot bacXem tiếp Bài 11-20