Trang chủ 03-Kỷ yếu Biên dịch (Trang 35 – 38)

Biên dịch (Trang 35 – 38)

321
0

Trang 35

2|.- Lâm tế tông : Khai sáng là thiền sư Nghĩa Huyền. Tông được gọi theo tên Chùa Lâm Hí nơi thiền sư Nghĩa Huyền mở đạo tràng Đời Đường năm thứ 8.

3.- Tào động tông: Khai sáng là thiền sư Lương Giới (807-883), khởi phát tại huyện Đông Sơn và Tào Sơn.

4.- Un môn tông : Khai sáng là thiền sư Ván uyển. Tông gọi theo địa danh khởi phát là| núi Vân Môn

5.- Pháp nhãn tông : Người khai sáng là thiền sư Văn ích (883-938). Khi thiền sư qua đời, chùa Nam Đường ban thụy hiệu là ‘Đại pháp nhãn thiền sư. Tông được gọi theo thụy hiệu này.

(14) Giơ cành hoa, nở nụ cười (niêm hoa và tiếu): Trên Hội Lỉnh Sơn, một hôm, Đức Thế Tôn cầm cành hoa đưa lên thị chúng. Lúc ấy, mọi người yên lặng, chỉ có một mình Tôn giả Ca Diếp mỉm cười. Đức thế tôn nói: ‘Ta có chính pháp nhãn tạng, Niết bàn diệu tâm, thực tướng vô tương, là pháp môn vi diệu trao truyền cho Ma ha Ca Diếp’. Thiền tông coi sự kiện ‘Niêm hoa vi tiếu’ là khởi đầu cho lịch sử thiền tại Ấn Độ.

(15) Cỡi cọng lau, vượt sóng biếc (giang vi độ trung): Nói về phong cách tự tại của Tổ Đạt Ma, vượt ngoài vòng sinh tử.

(16) Thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chỉ : Theo ‘Thiền uyển tập anh’, tổ thuộc dồng dõi Bà-la-môn, góc ở Nam Thiên Trúc, vân du qua Trung Hoa. Đến qua tháng ba năm Canh Tý (580) đến chùa Pháp Vân tại nước Việt và ở lại đây giáo hóa cho đến năm Giáp Dần (594) thì tịch. Tổ thành lập ra một dòng là dòng thiền tông Nỉ-Đa Lưu Chỉ, gồm mười chín thế hệ.

(17) Thiền sư Vô Ngôn Thông: Năm 820, Thiền sư Vô Ngôn Thông từ Trung Hoa sang Việt Nam và thành lập một thiền phái là thiền phái Vô Ngôn Thông. Vô Ngôn Thông, người Quảng Châu, họ Trịnh, xuất gia tu học tại chùa Song Lâm, ở Vũ Châu. Tính tình trầm lặng, ít nóỉ nhưng thông minh, cái gì cũng mau hiểu biết cho nên thời nhân đã tặng hiệu là Vô Ngôn Thông. Sách truyền Đăng lục gọi là bất Ngữ Thông. Sách Cao tăng truyện’ của Thông Tuệ đời Tống gọi tổ là Thông Thiền sư. Lần đầu tiên đến Việt Nam Tổ ở lại Chùa Kiến Sơ (Bắc Ninh), tịch năm 826. Tổ khai sinh dòng thiền Vô Ngôn Thông, chủ trương đốn ngộ và vô đắc, gần gủi với giáo lý thiền phái Trung Hoa. Thiền phái này truyền thừa có mười bảy thế hệ.

(18) Chùa Nam Hải : Còn được gọi là Chùa Phật Giáo Hải Phòng, thuộc tỉnh Hải Phòng. Năm 1953 Hòa Thượng An Lạc theo Tổ Trí Hải về đây kiến tạo chùa.

(19) Tổ Trí Hải (1906-1979) : Tổ sinh năm Bính Ngọ (1906) tại làng Quần Phương, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Hà. Xuất thân trong một gia đình chuyên làm nghề nông tang. Năm 17 tuổi xuất gia nhập đạo tại chùa Mai Xá


Trang 36

dưới sự dạy dỗ của Tôn sư Thích Thông Dũng. Năm 20 tuổi Tổ được thọ giới cụ túc tại chùa Tế Xuyên. Có lẽ 1934 là thời gian tổ khởi đầu phong trào chấn hưng Phật giáo tại Bắc Kỳ cho đến 1953. Tổ viên tịch năm 1979 tại chùa Phật Giáo Hải Phòng, thọ 74 tuổi. Tổ sáng tác tất cả có 27 tác phẩm Phật học.

(20) Tam sư thất chứng: Tì khiêu thụ giới cụ túc phải có đủ tam sư thất chứng:

1.- Tam sư:  a) Giới sư Hòa thượng; b) Yết ma sư

  1. c) Giáo thọ sư

2.- Thất chứng : Bảy vị Tôn đức chứng minh đối với vùng trung tâm, còn nếu ở biện địa cố thế giảm còn tam sư nhị chứng.

(21) Sa môn (Srmana) : Còn gọi là tang môn; Ta môn; Sa môn na. Dịch ý: Tức tâm, nghĩa là người dứt bỏ nghiệp ác. Nguyên nghĩa không phân biệt môn đồ đạo Phật hay ngoại đạo mà chỉ chung cho người xuất gia tu đạo.

(22) Sa di (Sramanera): Cố ba nghĩa :

  1. Tức từ : Đình chỉ giặc ác, thi hành từ bi.
  2. Cần sách : Được bậc tinh tấn sách lệ.
  3. Cầu tịch : Mong cầu Niết bàn.

Theo luật Phật chế, Sa di giữ mười giới; Được dự vào hàng tứ chúng xuất gia (Tỳ-khiêu, Tỳ-khiêu-ni, sa-dỉ, sa-di-ni).

(23) Tỳ khiêu (Bhiksu) : Còn gọi là bật-sô, là tên gọi chung những vị xuất gia thụ cụ túc giới. Nam gọi là Tỳ-khiêu; Nữ gọi là Tỳ-khiêu-ni. Gia tường Pháp Hoa huyền nghĩa : ‘Tỳ khiêu gọi là khất sĩ’. Trên thì xin pháp của Như Lai nuôi tuệ mạng; dưới tới chỗ người thế tục xin thức ăn để nuôi thân’.

(24) Đại nguyện thiện tài : Nguyện lớn của thiện tài đồng tử cầu đạo giải thoát. Theo kỉnh Hoa Nghiêm, thiện tài đồng tử từng tham học với 53 vị thiện tri thức và được BỒ Tát Di Lặc, Bồ Tát Văn Thù dạy đạo. Do quá trình tu học đó mà nhập được vào pháp giới.

(25) Chín chữ đức cù lao (Cửu tự cù lao): Chỉ công khố nhọc nuôi nấng của cha mẹ đối với con cái gồm chín chữ :

1-Sinh: Cha sinh
2.- Cúc: Mẹ đẻ
4.- Dục : Nuôi cho khôn
6.- Phục : Quấn quít
7.-Phủ: Nâng nhấc
8.- Súc : Nuôi cho lớn
9.- Phúc : Bông bế

(27) Kỳ Viên : Gọi đủ kỳ thụ cấp Cô Độc viên nghĩa là vườn ông cấp Cô Độc rừng cây Thái tử Kỳ Đà, cúng dường Đức Phật; tên gọi khác là Kỳ Đà Lâm, Kỳ Hoàn Lâm, Thệ Đa Lâm. Đức Phật đã từng trải qua mười chín mùa hạ tại đây.


Trang 37

    • (27) Thứu lĩnh : Non thứu, còn gọi là Linh Thứu Sơn, Thứu Đầu Sơn, Kỳ Xà Quật, Đức Phật từng thuyết pháp ở đây. Trí độ luận : ‘Núi Kỳ Xà Quật tức là núi Thứu Đầu, vì đỉnh núi giông như hình con chim thứu. Người thành Vương Xá nhân thế mà gọi tên núi như vậy’
    • (28) Tháp (Stupa) (thuật ngữ) : Còn gọi là Tháp Bà, Đầu Bà, Thân Bà, Phù đồ, v.v… Đều là gọi tắt của từ tiếng Phạn tốt – đô – ba (stupa). Theo ‘Tăng kỳ luật’ có Xá Lợi được gọi là Tháp Bà; Không có Xá Lợi gọi là Chi Đề. Theo ‘Kinh Trường A Hàm’. Những bậc cần được dựng tháp : 1) Phật; 2) Bích Chi; 3) Thanh Văn; 4) Luân Vương. Lại theo ‘Tăng kỳ luật’ : Tất cả sư tăng đều được dựng tháp gọi là trì luật pháp sư, các vị doanh sự tỳ khiêu, đức vọng tỳ khiêu đều nên dựng tháp.
    • (29) Người vàng (kim nhân) : Chỉ Đức Phật. Tục truyền rằng vua Hán Minh Đế (58-75 TL) một đêm nằm mộng thấy một người vàng bay trước điện. Vua hoan hỉ ngắm nhìn, sáng mai thức dậy liền hỏi quần thần : ‘Đó là vị thần nào vậy’ — có một vị quan tên Truyền nghị tâu : ‘Thần nghe ở nước Thiên Trúc có người đắc đạo, gọi là Phật, có thể phi hành trên hư không, thân thể có hào quang, chắc là vị thần ấy chăng ?’. Vua liền cử một phái đoàn đi sang nước Đại Nhục Chi (Scythia). Phái đoàn thỉnh được Kinh từ Thập Nhị Chương đem về. (trích V N.P.G.S.L).
    • (30) Tào Khê : Đạo tràng của tổ Huệ Năng ở chùa Bửu Lâm, Tào Khê, thuộc miền Nam Trung Quốc.
    • (31) Nuôi hổ sát miêu : Trong thuật ngữ này có hai tích thiền liên hệ đến Thiền sư Pháp Dung và Thiền sư Nam Tuyền.

a) Tích thiền thứ nhất là nuôi hổ (dưỡng hổ) :

Bấy giờ nhằm đời Trinh Quán nhà Đường, từ tổ Đạo tín xa xem khí tượng biết núi có dị nhân bèn hỏi thăm tìm đến. Cổ người cho biết cách chừng mười dặm, trong núi có một ông đạo thấy người chẳng đứng dậy, mà cũng chẳng chắp tay chào ai bao giờ. Tổ bèn tìm đến thấy sư Pháp Dung đang ngồi cứng đờ chừng như chưa bao giờ ngoái cổ lại. Tổ hỏi: ‘Ông làm gì ở đây’

Sư đáp : Quán tâm.
Tổ đáp : Quán là người nào ? Tâm là vật gì ?
Sư không đáp, đứng dậy đảnh lễ, hôi : ‘Chẳng hay tôn xá của Đại Đức ở đâu?’.
Tổ : Bần đạo chẳng trụ ở đây, Đông cũng vậy mà Tây cũng vậy.
Sư: Đại Đức có biết Thiền sự Đạo tín không ?
Tổ : Hỏi ông ta làm gì ?
Sư : Vì ngưỡng mộ cao đức đã lâu, những mong được chiêm bái.


Trang 38

Tổ : Đạo tín là bần đạo đây.
Sư: Nhân sao lên đây ?
Tổ : Cốt thăm ông. Có chỗ nào an nghỉ không ?
Sư chỉ về phía sau, nói : ‘Có cái cốc riêng’.
Bèn dẫn Tổ đến am ấy. Nhìn quanh am thấy lẫn quất loài hổ lang. Tổ dang đôi tay ra vẻ sợ hải : ‘Còn có cái đó sao ?’.
Tổ : Có thấy gì nữa không ?
Sư không đáp.

Chặp sau, Tổ bèn viết trên tảng đá sư Pháp Dung hằng ngày ngồi tịnh một chữ ‘Phật’. Sư nhìn thấy lộ vẻ khó chịu. Tổ hỏi:  ‘Còn có cái đó sao ?’.
b) Tích thiền thứ hai sát miêu, liên quan Thiền sư Nam Tuyền:
Một hôm hai nhóm tăng trong chùa tranh nhau con mèo, Hòa Thượng Nam Tuyền (749-835) ra thấy nắm lấy con mèo giơ lên cao, bảo : ‘Nói được thì mèo sống, nói không được ta giết chết con mèo’. Không aỉ đáp, và Nam Tuyền giết chết con mèo. Chiều đó, Triệu Châu về chùa, sư phụ kể lại câu chuyện ban ngày. Châu bèn cởi ra một chiếc giầy cỏ, đội lên đầu, rồi ung dung đi ra. Nam Tuyền nói : ‘Tiếc thay hồi sáng không có thầy ở chùa để cứu mạng con mèo con’. Muốn đạt tới chân lý, cần nhất phải tránh thái độ nhị nguyên đối đãi.