Trang chủ 03-Kỷ yếu Biên dịch (Trang 31 – 34)

Biên dịch (Trang 31 – 34)

291
0

Trang 31

Hương hoa thỉnh,

Một lòng phụng thỉnh : Pháp lữ cùng đàn; chúng tăng chung ở. Môn nhân thọ giáo sớm lên cõi tịch diệt; Bạch y pháp quyến vội dạo cảnh liên hoa. Song thân công dạy dỗ; Chín chữ đức cù lao (28). Tuy nhiên uống nước nhớ nguồn phận sớm viếng chiều thăm còn chưa đáp; Lại rằng hẹn non thề biển việc xuân tế thu thường giữ được chăng ? Gió thổi cây buồn; | sao tròn chữ hiếu, Đàn na thiện tín hằng tâm hằng sản : Hồn nương tịnh cảnh, sinh về chín phẩm hoa sen; Thân dứt trần lao, thoát khỏi bốn loài cảnh khổ. Vô vàn quyến thuộc, hà sa chân linh.

Duy nguyện : Cùng nương pháp lực, riêng hưởng phước ân; cùng dự trai diên, chung thọ cúng dường.

Đến đây cung thỉnh đã xong. Nay có chân ngôn tuyên đọc :

Đường đường tôn đức giáng trai diên
Nghi ngút hương bay đón thánh hiền
Phụ mẫu đàn na cùng phối hưởng
Thanh trai thức cúng đều tinh nghiêm
Giác hoa đường chủ lưu tên tuổi
An Lạc trụ trì nối gót thiền
Tự tại thư nhàn lên tịnh độ
Bảo tồn cảnh giới đẹp muôn niên.
Nam mô như mây hợp Bồ tát ma ha tát (3 lần).

Các thức đã bày; mỗi vị thơm tho. Dâng lên Tôn Đức ngôi cao, chứng giám lòng son dưới chiếu. Chân ngôn phổ cúng dường hôm nay, vài hàng thành tâm đọc tụng :


Trang 32

Hương bay khói biếc khí lành xông
Sen xanh hương lạ có mà không
Quả chứng Bồ đề thiền duyệt vị
Tiệc trai thanh đạm ngát thơm nồng.
Nam mô hương cúng dường mười phương
Bồ tát ma ha tát (3 lần).

Cơm thiền cuối tiệc; áo bát đều thâu. Vãn sớ giấy hoa giọng hay tuyên đọc. Sớ vàng từng chữ tuyên đọc đã xong; lòng từ tôn đức nhập thiền chấp nhận. Lửa thiêng ánh đỏ ngọn cháy lung linh; trang sớ chữ xanh thân nương thiêu hóa.

(Đọc tâm kinh lược)

Bạch tiễn :

Ô hô ! kỳ viên mây ám. Thứu lĩnh tuyết rơi. Mây u ám hề ! gió thổi mây tan. Tuyết tràn trề hề! Trời nắng tuyết trôi. Trông lên sao sáng hề ! chòm sao đêm chầu Bắc. Nhìn xuống nước chảy hề ! muôn dòng chảy về Đông. Bùi ngùi lên núi cao hề ! Ánh thờ tại tháp. Nghe gió thổi cành tùng hề ! Hậu thế nào quèn.

Cử tán :

Một điểm linh quang diệu lại huyền,
Chẳng sinh chẳng diệt vốn còn nguyên Cành tùng gió thổi ai người họa
Mây tiễn Tôn Sư đời chẳng quên.
Nam mô sinh về cõi hoa sen Bồ tát ma ha tát (3 lần).

  Kính lễ giác linh Thầy
   8/2006 – Bính Tuất
Đệ tử Thích Thanh Tùng
         Biên dịch


Trang 33

CHỨ THÍCH

(1)    Viên thông (thuật ngữ) : Cái lý mà diệu trí chứng được gọi là viên thông. Còn chỉ đem giác tuệ tràn khắp thông hiểu tất cả đi vào cả pháp tính gọi là viên thông. Đó là hai nghĩa của viên thông. Trong kỉnh Lăng Nghiêm có hai mươi năm vị đại sĩ theo câu hỏi của Đức Phật, mà trình bày về pháp môn viên thông cho tới nhĩ căn cũng là một cửa của viên thông.

(2)    Chân như (Bhùta-tathatà) (thuật ngữ) : Luận duy thức: ‘Chân là chân thực, làm rõ cái không phải hư vọng. Như là như thường, biểu thị không biến đổi. Tức là sự chân thực đó trong hết thảy chư Pháp, thể tính của nó là thường như nên gọi là chân như.

(3)    Y. Ba áo của người xuất gia Phật giáo : 1) Áo An – Đà – Hội là loại áo cà sa năm điều; 2) Áo uất đa la tăng là loại áo cà sa bảy điều; 3) Áo tăng già lê là loại áo cà sa từ chín điều đến hai mươi năm điều.

(4)    Bát (patra) : Âm phạn là bát-đa-la. Đồ đựng thức ăn của tỳ khiêu. ‘Cuốn y ôm bát’ ở đây chỉ sự viên tịch.

(5)    Quyền thực (thuật ngữ) : Pháp thích ứng với cơ nghỉ nhất thời gọi là quyền; Pháp cứu cánh bất biến gọi là thực. Luận chỉ quán : ‘Quyền là quyền mưu, tạm dùng rồi lại bỏ, thực là mục đích cứu cách đích thực’.

(6)    Lý sự (thuật ngữ) : Chỉ đạo lý và sự tướng. Lý là chân đế, sự là tục đế. Thích môn quy kính : ‘Nhập đạo có nhiều cửa, song chỉ có lý và sự. Lý là đạo lý, thông với hoài vọng lớn của thánh tâm; sự là sự cục, hạn chế mức độ phàm tính’.

(7)    Đại Địa : Theo câu xá luận, Đại địa là tất cả tâm thiện ác. Pháp sở hữu của tâm đại địa, gọi là Đại Địa Pháp vì nó khởi lên tương ứng với mọi tâm. Gồm có : 1) Thụ; 2) Tưởng; 3) Tư; 4) Xúc; 5) Dục; 6) Tuệ; 7) Niệm; 8) Tác ý; 9) Thắng giải; 10) Tam ma địa.

(8)    Nghĩa Xá ! Chùa Phúc Lâm thuộc làng Nghĩa Xá, tỉnh Nam Định; Dân làng gọi là Chùa Nghĩa Xá. Hòa Thượng An Lạc sơ tâm xuất gia học đạo ở đây.

(9)     Phạm điển : Kỉnh Phật.

(11)Tây thiên tứ thất : theo sử thiền; Thiền phả truyền thừa của thiền tông tại Ấn Độ kể từ Phật Tổ Thích Ca đến Tổ Bồ Đề Đạt Ma có 28 dòng Tổ.

1.-Phật tổ Thích Cá Mâu Ni: Sakyamuni
2.-Tôn Giả Ca Diếp: Mahakasyapa
3.-A-Nan Đà: Ananda


Trang 34

4.-Thương Na Hòa Tu:                            Sanavasa
5.-Ưu Ba Cúc Đa:                                  Upagupta
6.-Đề Ca Đa:                                         Dhritaka
7.-Di Giá Ca:                                         Micchaka
8.-Phật Đà Nan Đề:                               Buddhanandi
9.-Phật Đà Mật Đa:                                Baddhamitra
10.-Hiếp Tôn Giả:                                  Bhikshu parsva
11.-Phú Na Dạ Sa:                                 Punyayasas
12.-Mã Minh:                                         Asvaghosha
13.-Ca Tỳ Ma La:                                   Bhikshu Kapimala
14.-Long Thọ:                                        Nayarjuna
15.-Ca Na Đề Bà:                                   Kanadeva
16.-La Hầu La Đa:                                  Arya Rahulata
17.-Tăng Già Nan Đề:                             Sanghenandỉ
18.-Già Da Đạ Xá:                                  Samyhayasas
19.-Cưu Ma La Đa:                                 Kumarata
20-Xà Dạ Đa:                                        Jayata
21.-Bà Tu Bàn Đầu:                                Vasubandhu
22.-Ma Noa La:                                      Manura
23.-Hạc Lặc Na:                                     Haklenayasas
24.-Sư Tử Tỷ Khưu:                                Bhikshu Simha
25.-Bá Xá Tư Đa:                                   Vasasita
26.-Bất Như Mật Đa:                               Prajnatara
27.-Bát Nhã Đa La:                                 Prajnatara
28.-Bồ Đề Đạt Ma:                                 Bodhidarma
(12) Đông độ nhị tam : Thiền phả truyền thừa của thiền tông tại Trung Hoa kể từ tổ Bồ Đề Đạt Ma đến tổ Huệ Năng gồm ,6 đời:

1-Bồ Đề Đạt Ma                              (-528)                  .
2-Huệ Khả                                      (486 – 593)
3- Tăng xán                                    (-608)
4- Đạo tín                                       (580-6511
5-Hoằng nhẫn                                 (601-674)
6- Huệ năng                                    (638-713)
(13) Năm nhà thiền (Ngũ gia tông phái) : Dưới thời ngũ tổ thiền chia làm hai tông phái chính là Huệ năng và Thần tú. Thiền Thần tú chủ trương con đường tiệm ngộ, còn Thiền Huệ năng trái lại chủ trương đường lối đốn ngộ. Ngũ gia tông phái thuộc hệ Thiền Huệ hăng gồm có:

1.- Quy ngưỡng tông: Khai sáng là thiền sư Linh Hựu và đệ tử nối pháp, thiền sư Tuệ Linh. Tông được gọi theo tên địa danh khởi phát từ Qui Sơn ở Đàm Châu và ngưỡng sơn ở Diễn Châu.