Trang chủ 04-Đạo Phật Vũ trụ quan và nhân sinh quan Phật giáo (I)

Vũ trụ quan và nhân sinh quan Phật giáo (I)

749
0

Vũ trụ quan và nhân sinh quan Phật giáo (I)

Từ ngàn xưa đến nay, các trường phái triết học và tôn giáo từ đông sang tây đều có vũ trụ quan và nhân sinh quan riêng mình ; từ đó hình thành lẽ sống và lối sống muôn màu muôn vẻ của toàn nhân loại, theo quan điểm phổ thông người ta thường phân hai chủ thuyết: Thuyết duy tâm và duy vật

VŨ TRỤ QUAN VÀ NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO

ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU MỚI TRONG NGÀNH SINH HỌC

 Thích Thông Kinh

Từ ngàn xưa đến nay, các trường phái triết học và tôn giáo từ đông sang tây đều có vũ trụ quan và nhân sinh quan riêng mình ; từ đó hình thành lẽ sống và lối sống muôn màu muôn vẻ của toàn nhân loại, theo quan điểm phổ thông người ta thường phân hai chủ thuyết: Thuyết duy tâm và duy vật , và từ hai khuynh hướng cực đoan này lịch sử ghi nhận lại chúng đã pha trộn , cọ sát hình thành nhiều tư tưởng, các hệ thống triết học, tôn giáo khác nhau, và đã tạo ra các mâu thuẫn nhiều khi không thể dung hòa và là một trong nhiều nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự kỳ thị, phân biệt đôi khi dẫn đến những cuộc chiến tranh, thanh trừng thảm khốc và đẩm máu trên toàn thế giới không phải chỉ thời cổ đại mà ngay trong thời kỳ được gọi là văn minh hiện đại ngày nay.

Vào giữa thế kỷ 20 , nhà bác học Einstein đã ăn chay trường suốt cuộc đời còn lại của mình và phát biểu : “Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo vũ trụ, vượt lên mọi thần linh, giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn tâm linh, đặt trên căn bản của ý thức đạo lý, xuất phát từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi phương diện trên (vật chất và tâm linh) trong cái nhất thể đầy ý nghĩa, Phật giáo đáp ứng đủ các điều kiện ấy”(The religion of the future will be a cosmic religion. It should transcend a person God and avoid dogmas and theology. Covering both the natural and the spiritual, it should be based on a religion sence, arising from the experience of all things, natural and spiritual, as a meaningful unity. Busdhim answers this description)-Einstein Testament, và ông nhấn mạnh: “Nếu có một tôn giáo thỏa mãn được những yêu cầu của khoa học hiện đại, thì tôn giáo đó là Đạo Phật” –( If there is any religion that would cope with modern scientisfic needs, it would be Buddhism).-Trích từ ĐẠO PHẬT CÓ PHẢI LÀ TÔN GIÁO HAY KHÔNG? Huyền Chân, PHẬT HỌC CƠ BẢN-Tập 4, trang 311-Nhà xuất bản Tôn giáo-.

 Năm 2008, Liên hiệp quốc đã chọn Phật giáo là tôn giáo chính thức của nhân loại và tổ chức đại hội Vesak tại Việt Nam kỷ niệm ngày đản sinh Đức Phật Thích Ca … đã đặt ra những yêu cầu cấp bách trong việc nghiên cứu và ứng dụng những ý nghĩa thâm sâu mà vũ trụ quan , nhân sinh quan mà Phật giáo đã đem lại cho các ngành khoa học hiện đại.

A VŨ TRỤ QUAN PHẬT GIÁO:

Theo quan điểm chúng ta hiện nay, thế giới này gồm có trái đất xoay quanh mặt trời, Thái dương hệ nằm trong hệ ngân hà, Ngân hà nằm trong hệ Thiên hà và vô số Thiên hà trong vũ trụ luôn di chuyển và biến dịch và ngành thiên văn học hiện đại đã phát hiện ra số lượng vô cùng lớn “lỗ đen” trong vũ trụ, được đánh giá là nhiều hơn thế giới quan sát được. Đó là “vĩ mô” còn “vi mô” đã có thời kỳ cùng với việc phát minh ra nguyên tử người ta tưởng đã tìm được “viên gạch cơ bản của vật chất” ,nhưng các phát hiện hiện đại đã xóa đi những ảo tưởng này nào epson, quarks (cái này Bố quên nhiều con bổ xung thêm), phản hạt, không gian nhiều chiều, “vật chất là năng lượng được đóng chai”…đã buộc con người phải xét lại triệt để quan điểm duy vật & thực dụng của mình. Theo ngành nhiệt động lực học: “năng lượng toàn vũ trụ  không tăng không giảm mà chỉ biến đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác (điện năng, hóa năng, nhiệt năng…)”.

Các ngành khoa học khác cũng có những phát hiện vượt ngoài sức tưởng tượng trong đó đáng chú ý nhất là ngành Tâm lý và Phân tâm học hiện đại, ngoài việc ứng dụng khoa thôi miên vào việc chữa bệnh, đi sâu vào tiềm thức, vô thức ,các nhà thôi miên và phân tâm học đã đưa người bệnh trở về ký ức tuổi thơ và “việc gì đến nó sẽ đến” họ đã đưa người được thôi miên về kiếp trước ,các kết quả đã đụng chạm mạnh đến quan niệm “chết là hết”, Niềm tin vào sự Tái sinh (Rebirth), Luân hồi (Metempsychosis, samsara-eternal cycle of birth, suffering, death, and rebirth) một thời đã từng bị nhạo báng, mỉa mai, nay được các nhà khoa học nghiêm túc xem xét lại và thuyết Nhân quả (Nhân duyên) không còn được nhìn với góc độ khô khan duy vật, theo kiểu tam đoạn luận (O+H2=H2O)…mà được nhìn lại với góc độ tổng quát ứng dụng cả với tâm thức & vật chất, nhân quả và luân hồi của đạo Phật đã là cơ sở căn bản để các nhà khoa học ứng dụng và triển khai các nghiên cứu của mình theo nhận thức hiện đại.

Những ai đã từng tìm hiểu về Phật giáo đều choáng ngợp trước kho tàng Kinh, Luật, Luận …vô cùng phong phú của Đao Phật và từng có những trình bày khác nhau về Vũ trụ quan của Phật giáo, tuy nhiên “đại đồng tiểu dị”, tất cả đều công nhận “Ứng với hoạt động của tâm thức sẽ có những thế giới khác nhau tương thích với nó”,

Tổng hợp từ Kinh Phật, các thiền sư, luận sư (Đức Dalai Lama)…chúng ta có thể trình bày mô hình thế giới đó như sau, toàn bộ thế giới này (Pháp giới chúng sinh) được chia làm ba cõi: Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới. Toàn bộ chúng sinh của ba giới này vẫn phải sinh tử luân hồi,còn những chúng sinh đã tu luyện đủ công đức sẽ thoát vòng luân hồi từ Tứ Thánh, quả vị Bồ tát và cho đến khi đạt được sự toàn giác (quả vị Phật)-Chúng ta cũng cần hiểu rằng chúng sinh theo nghĩa của Phật giáo không chỉ riêng con người mà còn chỉ các chúng hữu tình có tâm thức từ con virus nhỏ bé đến các Atula(Thần) to lớn che được cả mặt trời, từ hữu hình đến vô hình, từ địa ngục cho đến cõi trời cao nhất Phi tưởng phi phi tưởng xứ nghĩa là vô tận, theo Kinh Kim Cang Đức Phật còn có mô tả các loại chúng sinh có lẽ là chính xác nhất: “Có tất cả các loài chúng sanh hoặc loài sanh bằng trứng, hoặc loài sanh bằng thai, hoặc sanh chỗ ẩm ướt, hoặc hóa sanh, hoặc có hình sắc, hoặc không hình sắc, hoặc có tưởng, hoặc không tưởng, hoặc chẳng có tưởng chẳng không tưởng, ta đều khiến vào vô dư niết bàn mà được diệt độ đó…” (Kinh Kim Cang giảng giải- H.T Thích Thanh Từ),nhưng thông thường các Phật tử hay gọi sáu cõi luân hồi(Trời, Atula, người, súc sinh, ngạ quỷ và Địa ngục), chia thành hai đường: tốt 3 cõi trên và xấu 3 cõi dưới

Có một cách trình bày khác là Dục giới có 6 cõi, Sắc giới có 4 tầng (sơ thiền, nhị thiền, tam thiền & tứ thiền chia ra đến 18 cõi. Cõi Vô sắc giới gồm 4 cõi là Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ và phi tưởng phi phi tưởng xứ. Cõi Tứ Thánh gồm có: Tư đà hoàn (Nhập lưu,thất lai),Tư đà hàm(Nhất lai),A na hàm (bất lai) và A la hán  chia ra khoảng 17 đến 18 tầng khác nhau, 55 cõi Bồ tát và vô số Phật sái (Cõi Tịnh độ của Phật A-di-đà, cõi Lưu ly của Lưu ly Quang Vương Phật, cõi Ta bà của Đức Phật Thích ca …)

Nay ta sẽ điểm qua các thế giới mà các chúng sinh sẽ sống tương ứng với tâm thức của mình và cũng cần nói rõ theo quan điểm đạo Phật các chúng sinh theo kết quả của nghiệp mình đã tạo mà sinh ra trong các thế giới theo bốn cách khác nhau: sinh từ trứng gọi là noãn sinh, từ bào thai gọi thai sinh, từ ẩm ướt tăm tối sinh ra gọi là thấp sinh và do biến hóa sinh ra gọi là hóa sinh, Tam hữu hay còn gọi là Tam giới được trình bày như sau:

I/- DỤC GIỚI: Chúng sinh trong cõi này chưa đoạn được ái dục gồm sáu cõi:

1/- Cõi Thiên: gồm 6 bậc nữa khác nhau thường gọi là lục dục thiên được diễn

 đạt bằng các từ dịch từ tiếng Phạn sang tiếng Hán:

– Tứ Thiên vương Thiên.

– Tam thập tam Thiên.(Đao lợi Thiên)

– Tu diệm ma Thiên.

– Đâu xuất Đà Thiên.

– Lạc biến Hóa Thiên.

– Tha hóa tự tại Thiên.

2/- Cõi Atula: gồm bốn giống:

– Từ trứng sinh ra, Thuộc loài quỷ.

– Từ thai sinh ra, thuộc loài người đã lên cõi trời nhưng đức kém phải sa đọa.

– Từ biến hóa sinh ra, thuộc về loài trời.

– Từ thấp khí sinh ra, thuộc về loài súc sinh.

3/- Cõi Nhân(Người):

4/- Cõi Súc vật:

5/- Cõi Ngạ quỷ:

6/- Cõi Địa ngục: Theo Kinh Lăng Nghiêm mô tả khái quát có : Nặng nhất có Ngục A-Tỳ, 8 Địa ngục vô gián, Địa ngục hữu gián, Thập bát địa ngục(10), Tam thập lục địa(36) ngục, nhất bách linh bát địa ngục(108), còn Kinh Địa Tạng mô tả chi tiết hơn nữa các hình phạt của các địa ngục khác nhau khiến ai nghiên cứu đến đều cảm khái cho thân phận của các chúng hữu tình.

II/- SẮC GIỚI:

Các chúng sinh do tu thiền định mới đạt cảnh giới này, chúng sinh trong cõi này do Hóa sinh mà thành tựu, vẫn còn mang hình dạng thân người, kết cấu được Mật tông miêu tả bằng Tứ đại vi tế (Bốn chủng tử Đất, Nước, Gió, Lửa vi tế), gồm 04 bậc chia 18 cõi khác như sau:

 a/-Sơ thiền: (Ly sinh hỷ lạc địa) có các cõi:

– Phạm chúng thiên.

– Phạm phụ thiên.

– Đại phạm thiên.

b/-Nhị thiền: (Định sinh hỷ lạc địa)

– Thiểu quang thiên.

– Vô lượng quang thiên.

– Quang âm thiên.

 c/- Tam thiền: (Ly hỷ diệu lạc địa)

– Thiểu tịnh thiên.

– Vô lượng tịnh thiên.

– Biến tịnh thiên.

d/- Tứ thiền: (Xả niệm thanh tịnh địa)

– Phúc sinh thiên.

– Phúc ái thiên.

– Quảng quả thiên.

– Vô tưởng thiên.

Ngang cõi tứ thiền có năm cõi gọi là Tịnh cư thiên hay Bất hoàn thiên, là chỗ ở của các chúng sinh tu luyện đạt quả vị Thánh, bậc nhị thừa gọi là A na Hàm (Bất lai- không quay lại),Nghĩa là không sinh tử luân hồi nữa. gồm có:

   a/- Vô phiền thiên.

   b/- Vô nhiệt thiên.

   c/- Thiện kiến thiên.

   d/- Thiện hiện thiên.

   e/- Sắc cứu kính thiên.

III/- VÔ SẮC GIỚI:

Từ cõi trời cao nhất của Sắc giới, các chúng sinh có hai đường trẽ:

– Các chúng sinh phát minh trí tuệ sáng suốt viên thông ra khỏi cõi trần đắc A-la-hán, vào Bồ tát thừa gọi là Hồi tâm Đại A-la-hán hoặc Bất hồi tâm độn Ala hán

– Còn lại có 4 cõi cho các chúng sinh chưa thoát sinh tử luân hồi, gồm có

1/- Không vô biên xứ.

2/- Thức vô biên xứ.

3/- Vô sở hữu xứ.

4/- Phi tưởng phi phi tưởng xứ.

 Ngoài ra, theo Kinh Lăng Nghiêm còn liệt kê mười dạng Tiên (72 động, ba mươi sáu đảo), gồm có:

1/- Địa hành Tiên.

2/- Phi hành Tiên.

3/- Du hành Tiên.

4/- Không hành Tiên.

5/- Thiên hành Tiên.

6/- Thông hành Tiên.

7/- Đạo hành Tiên.

8/- Chiếu hành Tiên.

9/- Tinh hành Tiên.

10/- Tuyệt hành Tiên.

 Những chúng sinh tu Tiên thường xa lánh sự ồn ào náo nhiệt, ưa thích nơi thanh vắng yên tĩnh để “Thanh tâm, quả dục”, nhằm từng bước đoạn diệt “Thất tình, lục dục”, “Luyện Tinh hóa khí, luyện khí hóa Thần, luyện thần hòan Hư”, khi thành công có những hiệu quả phi thường tùy theo pháp môn đã chọn, những vị tu theo Đạo Lão, Yogi có thể liệt trong dạng này, theo nhận định nhà Phật những chúng sinh này gần gủi Đạo Phật nhất.

Mật tông Tây Tạng còn liệt kê và xem trọng một cõi nữa là cõi Trung giới hay còn gọi là Cõi Âm, nơi chuyển tiếp các tâm thức sau khi thác và trước khi tái sinh vào các cõi nêu trên.

Tóm tắt vũ trụ quan Phật giáo: “Thế giới này có nhiều chiều không gian khác nhau, các chiều không gian đó tương ứng với kết quả hành động (thân, khẩu ý) của từng cá nhân (biệt nghiệp), tập thể (cộng nghiệp) ; và chủ yếu là từng tâm thức của các chúng sinh, loài người của chúng ta là một trong những cõi đó, mỗi cõi đều có những quy luật, định luật khác nhau nếu nói theo ngôn ngữ hiện đại, thế giới chúng ta nhận thức hiện tại bằng các giác quan(lục nhập:nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân và ý) hoặc bằng trợ lực của máy móc thiết bị hiện đại…kính thiên văn, hiển vi,gia tốc …chỉ là những kiến thức “người mù sờ voi””

Có một cách trình bày khác về vũ trụ có thể nói thuần vật chất; theo Kinh Phật đã phân loại các thế giới thành ba loại: Tiểu thiên thế giới, Trung thiên thế giới và Đại thiên thế giới (cần nói rõ chữ thiên ở đây hàm nghĩa số ngàn, không phải nghĩa trời) và vũ trụ có vô số vô biên các Đại thiên thế giới, thế giới theo nghĩa này chỉ một thiên thể, một ngàn thiên thể là Tiểu thiên thế giới, một ngàn Tiểu thiên thế giới là Trung thiên thế giới, một ngàn Trung thiên thế giới là Đại thiên thế giới. Như vậy Tiểu thiên gồm 1000 thiên thể, Trung thiên một triệu và Đại thiên là một tỷ.

Có người lại đặt vấn đề thế giới là một thiên hà vậy Tiểu thiên một ngàn Thiên hà, Trung thiên một triệu Thiên hà và Đại thiên một tỷ. Các cách trình bày này có phần hơi cực đoan, có lẽ cách trình bày của Bồ tát Phổ hiền trong Kinh Hoa Nghiêm là gần gũi với kiến thức ngành thiên văn học hiện đại nhất:

“Lúc đó Phổ Hiền lại bảo đại chúng rằng: Chư Phật tử! Thế giới hải có nhiều hình tướng sai khác, hoặc tròn…hoặc hình nước xoáy…hoặc hình như hoa…có vô số vi trần sai khác như vậy”

Và trong phẩm “Hoa tạng thế giới” chúng ta sẽ xem lại các đoạn kinh văn sau:

” Chư Phật tử! Tất cả thế giới chủng đó hình trạng đều khác nhau: hoặc hình núi Tu di… hoặc hình nước xoáy… hoặc hình trục xe… hoặc hình hoa sen…, có vô số vi trần hình trạng như vậy”

So sánh với hình trạng các chòm sao, các giải thiên hà, ngân hà mà khoa học khám phá gần đây người ta nhận thấy hình dạng giống một cách lạ lùng theo mô tả trên, thí dụ hình bánh xe, nước xoáy đã quan sát được trong các chòm sao: Cetus, Pegasus và Hercules, hình sông là giải ngân hà (Milky) và trong nhiều thiên hà khác; hình dạng hoa là những khối tinh vân trong không gian Liên thiên hà (intergalatic clouds of gas)… .-Trích từ PHẬT GIÁO TRONG THỜI ĐẠI KHOA HỌC- Trần Chung Ngọc, PHẬT HỌC CƠ BẢN-Tập 4, trang 322,323,324-Nhà xuất bản Tôn giáo-

Như vậy ta không thể biết thiên hà chúng ta hình dạng gì, vì với khả năng hiện tại tàu vũ trụ chưa thể bay ra ngoài thiên hà này quan sát vì bay từ đầu thiên hà này sang bên khác phải mất hàng triệu năm ánh sáng, nhưng có một mô tả khác trong Kinh Phật: Cõi Ta bà “ngũ trược ác thế” này có hình dạng núi Tu di, Phía Bắc có Bắc câu lô châu, nam có Nam thiên bộ châu, đông có Đông thắng thần châu và tây có Tây ngưu hóa châu. Hình dạng Thiên hà chúng ta có dạng núi Tu-di một ý niệm đầy cảm hứng và dĩ nhiên còn chờ sự xác nhận của ngành Thiên văn học.

Đó là nói về không gian còn thời gian theo các nhà khoa học: ” Thời gian là sự vận động của vật chất” và một năm tính theo chu kỳ trái đất quay đúng một vòng xung quanh mặt trời, như vậy thời gian của các thiên thể, ngân hà và thiên hà sẽ có những cách tính sai biệt rất lớn, vào thế kỷ 20 những phát hiện của nhà bác học lỗi lạc Einstein đã làm lung lay quan niệm phân chia không và thời gian một cách cơ học bằng công thức nổi tiếng E=mc2 , đã thiết lập mối tương quan mật thiết giữa năng lượng, vật chất và tốc độ (x/t) cũng có nghĩa là quan hệ chặt chẽ với thời gian, với c là tốc độ ánh sáng được tính tròn 300.000km/giây, một quan niệm mới ra đời với Hệ Không-Thời gian bốn chiều, khối lượng vật chất thay đổi khi tốc độ hay thời gian thay đổi, và tại sao không? dĩ nhiên đã có không gian bốn chiều thì sẽ có thể có nhiều chiều không gian khác nhau mà các nhà khoa học đang miệt mài khám phá…!

Phật giáo thì sao? đã có phân loại như sau: Tiểu kiếp có 16.800.000 năm, Trung kiếp có 336 triệu năm, Đại kiếp có một tỷ 334 triệu năm. Theo nhà Phật vũ trụ này luôn trải qua các thời kỳ sau: Thành nghĩa là sự bắt đầu hình thành vũ trụ tương đương vụ nổ Big Bang nếu nói theo ngôn ngữ hiện đại, Trụ nghĩa các thiên hà, ngân hà và trái đất mới hình thành và là nơi cho các chúng sinh với muôn vàn sai biệt xuất hiện theo luật nhân quả, luân hồi và tiến hóa, Hoại nghĩa là vũ trụ đã già cỗi và chúng sinh cũng đi vào thời kỳ nhà Phật gọi là “Mạt Pháp”, Không nghĩa là vũ trụ sụp đổ tương đương thời mặt trời đã phóng hết năng lượng vật chất của mình và “lỗ đen” xuất hiện, còn chúng sinh đi vào thời kỳ Ki tô giáo gọi là tận thế.

Nhà Phật cũng thường diễn đạt không gian bằng các câu “mười phương chư Phật” trong đó mười phương có nghĩa tám hướng cộng phương trên và phương dưới là mười phương, thật là một cách diễn đạt không gian chính xác không bắt bẻ vào đâu được dù đối tượng khảo sát tọa vị tại bất cứ điểm nào trong vũ trụ, còn “quá khứ, hiện tại. vị lai” diễn tả tình trạng “vô thủy, vô chung” của thời gian tương đương -∞ đến +∞ trên trục thời gian toán học hiện đại, hiện tại được phật tử quan niệm bao gồm một nửa là quá khứ và một nửa là tương lai…

Có một cách diễn đạt thời gian khác, nhất là Thiền và Mật tông, thời gian là một tiểu niệm tương đương một Sát-na, và cũng tuân theo quy luật Thành, Trụ, Hoại, Không nhưng với tốc độ cực nhanh trong tâm thức của mỗi chúng sinh, có thể ví như những sóng của điện não đồ, điều này không phải mơ hồ, thực tế có những người “Nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại”, có những người ngồi cạnh người yêu “Thời gian sao qua nhanh thế”, hoặc trong khoa học độ dài được xác định bằng bước sóng… vvv và vvv. Theo Luật Tăng Kỳ thì: ” Một khảy móng tay có 20 cái nháy mắt, một nháy mắt có 20 đại niệm, một đại niệm có 90 tiểu niệm(sát na)”, tức là một khảy móng tay có 36.000 sát na đã trôi qua.

Với quan niệm thời gian là niệm(Sát-na) của tâm thức thì cùng với mô hình không-thời bốn chiều với mối liên quan giữa năng lượng, vật chất và tốc độ(Thời gian) đã biến đổi thành mối quan hệ mới và ta có thể nói là quan hệ giữa năng lượng, vật chất và tâm thức đã được thiết lập, điều này mới có thể lý giải vì sao có những chúng sinh tu luyện đạt các khả năng phải nói là phi thường, ngoài sức tưởng tượng (thần thông) không phải chỉ trong Kinh sách mà ngay trong thời hiện tại có người nhập định không ăn không uống trong một thời gian dài, hoặc có những người phủ đầy nước đá vẫn không hề hấn gì …, nhận định này rất quan trọng- xin nhấn mạnh- vì nó sẽ là căn cứ để giải thích các phần sau.

Và toàn bộ vũ trụ này, theo Kinh Lăng Nghiêm chỉ là “Bọt nước trong biển lớn” xin trích nguyên văn: “Một phen lầm cái tướng ấy làm tâm thì quyết định lầm cho tâm ở trong sắc thân, mà không biết rằng cho đến núi sông, hư không, đất liền bên ngoài đều là những vật hiện trong tâm tính; ví như bỏ cả trăm nghìn biển lớn trong lặng, chỉ nhận cái bọt nước rồi cho nó là toàn hết cả nước, cùng tột biển lớn …”, (Trang…, KINH LĂNG NGHIÊM- Tâm Minh dịch-Nhà xuất bản Tp HCM), hoặc “Nên biết, hư không sinh ra ở trong tâm ông cũng như chút mây điểm trên vùng trời, huống là các thế giới ở trong hư không…” (Trang752, KINH LĂNG NGHIÊM- Tâm Minh dịch-Nhà xuất bản Tp HCM).

Hoặc theo Kinh Viên Giác chỉ là “hoa đốm” trong hư không và trong Kinh Kim Cương Đức Phật xác định:

“Nhất thiết hữu vi Pháp.

Như mộng, huyễn, bào, ảnh.

Như lộ diệc như điện.

Ưng tác như thị quán”.

H.T Thích Thanh Từ người nối tiếp và phục hồi Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam đã dịch:

“Tất cả pháp hữu vi .

Như mộng, huyễn, bọt, bóng.

Như sương cũng như điện.

Nên khởi quán như thế”.

 -Trích từ KINH KIM CANG Giảng giải- H.T Thích Thanh Từ,trang 247,248 -Nhà xuất bản Tp Hồ Chí Minh-

Pháp hữu vi ở đây có thể hiểu là toàn bộ thế giới (Tam cõi), bao gồm cả vật chất và tâm thức, hữu hình và vô hình còn trong cõi luân hồi.

Những bí ẩn của vũ trụ là vô tận so với khả năng và giới hạn của chúng ta, và vũ trụ này “vô tận cả về chiều sâu  lẫn chiều rộng” theo cách diễn đạt của chủ nghĩa duy vật biện chứng và vũ trụ này luôn dịch chuyển theo Kinh Dịch -một bộ sách cổ Trung quốc được các nhà khoa học ca ngợi là công thức của vũ trụ, và Lão tử một triết gia cổ đại Trung quốc đã khẳng định trong Đạo đức Kinh:

Vô danh Thiên Địa chi thủy.

Hữu danh vạn vật chi mẫu.

Nguyên thủy của trời đất là không tên .

Có tên là mẹ của vạn vật.

Hoặc vũ trụ biến đổi biến đổi theo quy luật “Thành, Tựu,Hoại, Không” nếu nói theo ngôn ngữ Phật giáo mà các Phãt tử gọi là vô thường, một trong những phát hiện quan trọng nhất của Phật giáo là sự biến đổi trong tâm thức của chúng ta quyết định vận mệnh của chính mình và sự tương quan thế giới, và Áo nghĩa thư một bộ kinh văn cổ của Ấn độ đã xác định “sự xoay chiều của tâm thức” hay Đạo Phật; “Hồi đầu thị ngạn”, quay lại là thấy bến bờ mới là mục đích của từng cá nhân, của cả dân tộc, của từng quốc gia, của toàn thể nhân loại và các thế giới khác còn trong vòng luân hồi sinh tử, sự tương quan giữa các tâm thức và thế giới theo kinh Hoa Nghiêm như lưới Phạm võng (lưới trời) có thể ví như mạng lưới kết nối của các phân tử và trước một vũ trụ quan sinh động như vậy Đức Phật vẫn tuyên bố “chân lý đó chỉ là lá trong nắm tay trước cánh rừng chân lý vũ trụ” nhưng cũng đủ “giúp các ngươi giải thoát”  -xin nhấn mạnh- và mỗi cá nhân hay chúng sinh đều là một vị Phật tiềm năng.

Thông thường các Phật tử đều quan niệm vũ trụ kết cấu bởi Tứ đại: Đất, Nước, Gió, Lửa, nghĩa là thuần vật chất, nhưng nghiên cứu sâu Kinh Lăng nghiêm ta thấy Đức Phật đã xác định vũ trụ luôn tiềm ẩn và kết cấu bởi Thất đại (các chủng tử hình thành các thế giới): Địa đại, Thủy đại, Phong đại, Hỏa đại, Không đại, Kiến đại và Thức đại, trong đó Thức đại có vai trò cực kỳ quan trọng và quan niệm này gần gủi với khoa học nhất

Và để khỏi lạc đề chúng ta hãy xem xét trước cấu trúc vũ trụ quan bao quát  như vậy Đức Phật đã xây dưng một nhân sinh quan cho nhân loại như thế nào? Tại sao mỗi người đều có tiềm năng Phật tính mà vẫn mãi trôi nổi luân hồi trong lục đạo?-“Ta là Phật đã thành, các ngươi là Phật sẽ thành”.

(Xem tiếp)