Trang chủ 04-Đạo Phật Huệ Năng Lục Tổ (Phần II)

Huệ Năng Lục Tổ (Phần II)

679
0

Lục Tổ thọ 76 tuổi. Năm 24 tuổi còn là cư sĩ được trao truyền Y, Bát . Năm 39 tuổi, xuống tóc thọ cụ túc giới. Thuyết pháp lợi ích cho chúng sanh 37 năm, kẻ ngộ đạo cao siêu rất nhiều, kẻ được nối pháp có 43 người, môn đệ anh tuấn có Thanh Nguyên Hành Tư, Nam Nhạc Hoài Nhượng, Hà Trạch Thần Hội, Vỉnh Gia Huyền Giác, Nam Dương Tuệ Trung, Pháp Hải

Huệ Năng Lục Tổ (Phần II)
Chánh Hạnh

Lục Tổ thọ 76 tuổi. Năm 24 tuổi còn là cư sĩ được trao truyền Y, Bát . Năm 39 tuổi, xuống tóc thọ cụ túc giới. Thuyết pháp lợi ích cho chúng sanh 37 năm, kẻ ngộ đạo cao siêu rất nhiều, kẻ được nối pháp có 43 người, môn đệ anh tuấn có Thanh Nguyên Hành Tư, Nam Nhạc Hoài Nhượng, Hà Trạch Thần Hội, Vỉnh Gia Huyền Giác, Nam Dương Tuệ Trung, Pháp Hải . Chính Ngài Pháp Hải thường theo Lục Tổ ghi chép thuyền ngữ, ngôn hành rồi soạn thành bộ Tôn Bảo. Sau nầy Linh Thao dựa theo đó và các văn bia của Thượng Thư Vương Duy, Thứ Sử Liễu Tôn Nguyên và Lưu Vũ Tích soạn thành Pháp Bảo Ðàn Kinh.

Môn đồ của Ngài Nam Nhạc sau phân lập thành 2 tông phái Thiền là Lâm Tế và Quy Ngưỡng.

Còn môn đồ của Ngài Thanh Nguyên sau phân lập thành 3 tông phái Thiền là Tào Ðộng, Vân Môn, Pháp Nhẫn. Năm tông nầy ứng với câu kệ: ” Nhứt hoa khai ngũ diệp.”

Ðến tháng 11 năm ấy, quan lại, môn đồ của Ngài ở ba quận Quảng Châu, Thiều Châu và Tân Châu đều muốn giữ nhục thân của Ngài để tôn thờ, nên cuối cùng phải giải quyết, đốt hương khấn nguyện với Ngài ” Hễ khói nhang bay về hướng nào, nhục thân sẽ được rước về đó “. Rồi khói nhang bay về hướng Tào Khê.

Ngày 13 tháng 11 năm Quí Sửu ( 713 ). Linh cữu, Y, Bát được rước về Tào Khê.

Ngày 25 tháng 7 năm Giáp Dần ( 714 ), tổ chức lễ nhập tháp cho nhục thân Lục Tổ. Những bảo vật như Y, Bát của Tổ Ðạt Ma truyền lại, Y ma nạp, Bát thủy tinh của Vua Trung Tông ban và tượng Lục Tổ do Sư Phương Biện đấp cùng các đạo cụ, đều giao cho thị giả của Lục Tổ, để tại chùa Bảo Lâm.

Ðêm mồng 3 tháng 8 năm Nhâm Tuất ( 722 ), thình lình nghe trong tháp như có tiếng kéo dây sắt. Chúng tăng giựt mình thức dậy, ngó thấy một người mặc đồ đại tang từ trong tháp chạy ra. Tìm thấy có vết thương tại nơi cổ Lục Tổ. Môn đồ đem chuyện ấy trình lên quan trên. Quan huyện Dương Khản và Thứ Sử Liễu Vô Thiễm nhận được đơn, truy lùng kẻ phạm tội. Sau năm ngày tìm được tên Trương Tịnh Mãn, người huyện Lương thuộc Nhữ Châu, ở chùa Khai Nguyên xứ Hồng Châu, nhận do Thầy Sải Kim Ðại Bi nước Hàn khiến mướn lấy đầu Tổ để đem về xứ Hải Ðông cúng dường.

Quan Thứ Sử họ Liễu nghe lời khai, chưa gia hình, liền đến Tào Khê hỏi Sư Linh Thao: ” Vụ án nầy, xử như thế nào ? ” Linh Thao đáp: ” Nếu lấy luật nước mà bàn, thì nên giết. Nhưng lấy nghĩa từ bi của Phật giáo thì oán thù như nhau, huống hồ gì hắn muốn cúng dường, thì nên tha thứ vậy.”

Liễu Vô Thiễm khen: ” Mới hay cửa Phật quảng đại !”

Việc nầy ứng với câu sấm ký của Lục Tổ, nhục thân Ngài bị kẻ trộm người Mán cắt lấy đầu, lúc Dương Khản làm quan huyện và Liễu Vô Thiểm làm quan Thứ Sử.

Năm đầu Thượng Nguyên ( 760 ),Vua Túc Tông sai sứ thỉnh Y, Bát của Lục Tổ đem vào nội cung cúng dường. Qua năm đầu Vĩnh Thái ( 765 ), ngày 5 tháng 5 năm, Vua Ðại Tông chiêm bao thấy Lục Tổ xin lại Y, Bát. Ngày mồng 7 tháng ấy, sai sứ là Trấn Quốc Ðại Tướng quân Lưu Sùng Cảnh mang Y, Bát trả về chùa Bảo Lâm và truyền cho Thứ Sử Thiều Châu Dương Giam khiến chùa gìn giữ cẩn thận và Vua đặt là Quốc Bảo.

Vua Ðường Hiến Tông ( 806 – 821 ) ban thụy là Ðại Giám Thiền Sư, đề tên tháp là Nguyên Hòa Linh Chiếu.

Vua Tống Thái Tông ( 976 – 983 ) gia tặng thụy hiệu là Ðại Giám Chơn Không Thiền Sư, chiếu sửa sang lại tháp và đặt tên là Thái Bình Hưng Quốc Chi Tháp.

Năm 1033, Vua Tống Nhơn Tông ( 1023 – 1064 ) rước chơn thân, Y, Bát của Lục Tổ vào đại nội cúng dường lại gia tặng thụy hiệu là Ðại Giám Chơn Không Phổ Giác Thiền Sư.

Vua Tống Thần Tông ( 1068 – 1086 ) gia tặng thụy hiệu là Ðại Giám Chơn Không Phổ Giác Viên Minh Thiền Sư.

Sự thị hiện của Lục Tổ.

Ở ngoài thế tục, Lục Tổ là một người nghèo khó, bán củi nuôi mẹ độ nhật, vào chùa là phụ thung cư sĩ lo việc bửa củi, giã gạo, chớ chẳng có tụng kinh, nghe pháp. Hơn tám tháng chưa bước tới chánh điện, thậm chí đến việc Ngũ Tổ tập họp môn đệ lại, để dạy mỗi người làm một bài kệ trình kiến giải của mình về tánh Bát nhã, người ta cũng chẳng lưu tâm đến Ngài vì Ngài là người miền Nam được liệt vào loại man di mà lại không biết chữ nữa! Vậy mà Lục Tổ đã ngộ được Phật tánh, chứng đắc pháp Phật, được Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn trao truyền Y Bát. Việc này phá bỏ tất cả những quan niệm, nhận thức sai lầm từ trước là chỉ có những người có học, những người có trí tuệ mới có thể tu học, chứng đắc được Phật pháp. Trường hợp Lục Tổ chứng thực rằng từ kẻ trí cho đến phàm phu đều có Phật tánh, cho nên đều có thể thành Phật. Là một trường hợp thuyết phục mạnh mẽ cho mọi người dễ tin rằng chân lý của đức Phật rõ ràng “Nhất thiết chúng sinh giai hữu Phật tính”.

Chúng ta thấy rằng đạo Phật được truyền bá vào Trung quốc từ những năm trước Công Nguyên, cho đến đời Vua Minh Ðế nhà Hậu Hán năm 67 TL nhà Vua sai sứ sang Tây Vực thỉnh tượng Phật, dọc đường sứ rước được hai nhà sư Ấn Ðộ là Ca Diếp Ma Ðằng và Trúc Pháp Lan đưa về kinh đô, Vua mừng rỡ cho lập Bạch Mả Tự để hai nhà sư dịch kinh. Từ đó cho đến khi Ngài Huệ Năng cầu Pháp, đạo Phật đã truyền bá ở Trung Quốc trên 600 năm đã có những nhà sư Trung Quốc sang Ấn Ðộ thỉnh kinh như Ngài Pháp Hiển đi Ấn Ðộ từ năm 399 đến 414 và Ngài Trần Huyền Trang (600-664) đi Ấn Ðộ từ 629 đến 645, có nhiều Vua, quan đại thần đã quy y Tam bảo, dốc lòng phụng sự Phật Pháp như là Lương Võ Ðế, một số nhà sư được phong làm Quốc Sư, cho thấy đạo Phật thời ấy ảnh hưởng mạnh mẽ đến Vua, quan và những nhà trí thức làm cho người ta có thể nghĩ rằng đạo Phật chỉ thích hợp cho hạng người trí thức, uyên thâm kinh điển, để nghiên cứu giáo lý. Trường hợp Ngài Huệ Năng là một biến cố, đạo Phật chân truyền từ đức Thế Tôn cho đến Ngài vẫn chỉ là một giáo lý, một chân lý. Tự tánh Bồ Ðề bổn lai thanh tịnh, bình đẳng với mọi người, ai ai cũng có thể đạt tới thanh tịnh, thanh tịnh thường hằng ấy là đạt đạo vậy.

Tư tưởng căn bản của Lục Tổ.

Không phải tự nhiên mà Lục Tổ, hoặc là người viết Pháp Bảo Ðàn Kinh đã đưa lên hàng đầu quyển kinh, cũng là lời mở đầu bài giảng ở chùa Ðại Phạm khi Tổ được Thứ Sử Lưu Cứ thỉnh Ngài từ núi ra thành Thiều Châu giảng kinh:

– Thiện tri thức! Bồ Ðề tự tánh, bổn lai thanh tịnh, đản dụng thủ tâm, trực liễu thành Phật.

Nghĩa là: Hỡi chư thiện tri thức! Tự tánh Bồ Ðề vốn thanh tịnh, chỉ dùng cái tâm nầy, đủ thành Phật vậy.

Ai cũng biết rằng Phật đã dạy “mọi chúng sanh đều có Phật tánh”. Phật tánh ấy là tự tánh Bồ Ðề là sự thanh tịnh. Làm thế nào giữ cho được tâm của mình luôn luôn thanh tịnh thì sẽ thành Phật.

Ở đây Lục Tổ khẳng định lại một lần nữa sự chứng đắc của Ngài :

Bồ Ðề bổn vô thọ
Minh kính diệc phi đài
Bổn lai vô nhứt vật
Hà xứ nhạ trần ai?

Qua bài kệ nầy, chúng ta thấy Ngài đã khẳng định tự tánh Bồ Ðề vốn không là, không phải, không có một vật gì cả mà như vậy thì nó thanh tịnh đó là Ngài định nghĩa. Bây giờ Ngài chỉ cho cách tu để thành bậc chánh giác ấy là phải giữ cho tâm luôn luôn được thanh tịnh tức là đạt đến cảnh giới Niết Bàn, đạt đạo tức là thành Phật.

Trong kinh Di Ðà, Phật có dạy: “Nếu có thiện nam, tín nữ nào hoặc một ngày cho đến bảy ngày niệm danh hiệu Phật, tâm không tán loạn, khi sắp chết sẽ được Phật A Di Ðà và chư vị Thánh hiện ra trước mắt. Khi chết mà tâm không tán loạn liền được sanh về cõi cực lạc của Phật A Di Ðà. Nhờ đoạn kinh phổ quát nầy, chúng ta thấy rằng một khi ta nhứt tâm chánh niệm, không chút xao động thì tâm ta đạt được cảnh giới thanh tịnh, tâm ấy là Bồ Ðề tâm mà tánh ấy là tánh thanh tịnh: Không sanh, không diệt, không thêm, không bớt, không dơ, không sạch. Ðó cũng là Trí Bát Nhã vậy. Ðạt đến nhứt tâm bất loạn, tức là tâm Bồ Ðề, tức là đã đến bờ bên kia. Một người ngồi thiền, một người niệm Phật đều có thể đạt được.

Tư tưởng căn bản của Lục Tổ được Ngài trình bày thật rõ ràng, cô đọng và xúc tích.

Sự hình thành dòng thiền đông độ.

Qua câu hỏi của Ngũ tổ : ” Gạo giã đã trắng chưa ? “, nếu câu ấy Tổ hỏi chúng ta, chắc chúng ta sẽ trả lời một trong hai trường hợp ” – Ðã trắng hoặc chưa được trắng “. Còn Huệ Năng hiểu theo mật ý là đã đạt đạo chưa ? Do đó Ngài trả lời là ” – Gạo giã đã trắng, chỉ còn thiếu cái sàng “, có nghĩa là lý đạo đã thấu nhưng còn chờ người chứng đắc cho.

Rồi Ngũ tổ tay đang cầm quạt, gõ vào cối ba cái, ngài Huệ Năng hiểu liền đó là ước hẹn vào canh ba, cho nên ngài Huệ Năng canh ba đêm đó liền lẻn vào phương trượng của ngài Hoằng Mai, từ lời lẽ trong bài kệ đến những câu đối đáp, nhậm ý chứng tỏ căn tánh ngài Huệ Năng đã đạt đạo. Do đó Ngũ tổ đã trao truyền tâm ấn, giao phó cho Lục tổ trách nhiệm hoằng pháp, độ sanh, xiển dương chánh pháp, làm cho dòng Thiền Ðông độ ngày càng hưng thịnh hơn.

Lục tổ lấy kinh nghiệm bản thân mình, không cần phải đọc thiên kinh, vạn quyển, chỉ giữ cho tâm thanh tịnh, trí Bát nhã tự nhiên sanh, chính Lục tổ đã tỏ ngộ được từ kinh Kim Cang, một kinh sắc như gươm, chặt đứt mọi phiền não, triệt để phá chấp. Lục tổ dùng kinh Kim Cang làm tôn chỉ cho tông Vô niệm của ngài để lưu truyền hậu thế, thay chi Lăng già do Sơ tổ Bồ Ðề Ðạt Ma từ Ấn Ðộ mang sang truyền trao lại.

Một vài nghi vấn

Việc Huệ Minh và những người chạy theo tìm Lục tổ để lấy lại y bát, làm cho nhiều người nghĩ rằng, đạo Phật là đạo diệt dục nhưng tại sao người ta còn Tham Sân Si, muốn chạy theo Lục tổ để dành lấy Y Bát ?

Hiểu như vậy cũng đúng nhưng mà nếu chúng ta ở vào hoàn cảnh một thiền sinh dưới trướng của Ngũ Tổ, chúng ta sẽ nghĩ và làm gì ? Ðâu phải tất cả mọi người vào chùa tu là Thánh Tăng, xả ly tất cả mọi tham ái ? sân si ? Có những người đã tu lâu năm, có những người vừa mới tu, họ cũng là người tâm tánh cũng như chúng ta mà thôi, cho nên ai ai cũng tôn kính giáo thọ Thần Tú, mọi người đều nghĩ rằng Thần Tú sẽ được truyền y bát, gần nhất là bài kệ của người đã được Ngũ tổ tán dương. Còn Huệ Năng, dưới mắt của các Thiền sinh chẳng qua là một anh chàng quê mùa, dốt nát, chỉ có làm công quả, chẳng có tụng kinh, ngồi thiền, sau ba ngày anh ta mất tích, Ngũ tổ cũng không thăng đường thuyết pháp, nay ngài cho biết Y Bát đã truyền cho Huệ Năng ! Có lẽ vì lòng Từ mà ngài phải nói như thế, để giúp cho Huệ Năng khỏi bị mang tội trộm cắp mà thôi, chớ sự trao truyền ấy có ai đã thấy ? Chàng ta đã xứng đáng chưa ? Chắc là chưa. Vì bài kệ của Huệ Năng đọc cho quan Biệt giá Trương Nhật Dụng chép lên vách, đã bị Ngũ tổ dùng dép xóa đi, trước mọi người ngài còn khẳng định là chưa đạt đạo kia mà. Nhưng có lẽ lòng tham của Huệ Năng nỗi lên, đã đánh cắp Y Bát và trốn chạy, mà anh chàng nhà quê ấy còn trốn chạy đâu hơn là chạy về miền Nam.

Ở vào trường hợp nầy, Ngũ tổ có lòng từ nên tha thứ, nhưng nếu chúng ta không chạy theo lấy lại Y Bát trả về cho Ngũ tổ mới là đáng chê trách người đệ tử không biết bảo vệ, phục vụ thầy tổ mình. Cho nên Huệ Minh và những người sơ cơ khác chạy theo Lục Tổ để dành lại y bát, là một hành động đương nhiên thường tình, lý phải như vậy, còn nếu Thần Tú chạy theo mới đáng cho chúng ta chê trách.

Ngũ tổ vì sao truyền Y Bát mà không cho chúng đệ tử rõ ? Lý do chánh yếu là ngài biết rõ ai ai cũng tôn thờ Thần Tú, từ lâu mọi người tin chắc rằng Thần Tú sẽ được truyền Y Bát, nay nếu tuyên bố Y Bát truyền cho Huệ Năng mọi người sẽ không thể phá chấp, sẽ xem Huệ Năng là một người quê mùa, dốt nát, tầm thường và Huệ Năng có thể bị ám hại, cho nên Ngũ tổ đã dạy Huệ Năng xuôi về Nam, ẩn thân một thời gian, như thế một là Huệ Năng đến miền đất xa lạ, chưa ai biết tông tích, người ta sẽ dễ dàng chấp nhận, tôn thờ, hai là thời gian ẩn thân để làm cho tâm mọi người lắng động, phải chấp nhận việc truyền trao Y Bát đó là đương nhiên, khi đã được một số người khác tôn sùng, họ sẽ bảo vệ thầy tổ của mình, ba là Huệ Năng có đủ thời gian để nghiền ngẫm suy tư và chứng ngộ, chờ đợi một cơ hội thuận tiện khai mở dòng thiền, ngài đã khai mở đúng lúc bằng một nhát búa bổ mạnh vào tâm thức hai thiền sinh về ” tâm động “, trong khi họ cãi với nhau vì lá phướng động hay vì gió động.

Khi tiễn Huệ Năng, Ngũ tổ cho biết ba năm sau người sẽ tịch, tại sao Ngài không dành ba năm đó để giảng dạy chữ nghĩa, kinh điển, khai mở trí tuệ cho Huệ Năng rồi mới trao truyền Y Bát, thật ra thì Huệ Năng đã đạt đạo, sau nầy ngài đã nói với Ni sư Vô Tận Tạng : ” Lý mầu của chư Phật chẳng quan hệ gì với văn tự “. Mà đúng vậy, Huệ Năng đâu đã học chữ nào mà đã ngộ được kinh Kim Cang, thì cần gì Ngũ tổ phải dạy thêm chữ nghĩa, điều nầy lại hóa ra là một khẳng định, một phá chấp triệt để những lớp trước hoặc đương thời tôn sùng văn tự, phải lão thông kinh điển, chẳng hạn như Tam Tạng Pháp sư Trần Huyền Trang, mới có thể tu học và chứng ngộ giáo lý đạo Phật.

Lãnh Nam là tên vùng đất Việt Nam thời trước, nhưng cha mẹ của Huệ Năng đều là người Trung Hoa và chùa Quốc Ân ở xứ Tân Châu, nơi mà vua Ðường Trung Tông ban cho ở chỗ cũ tức là đất Lãnh Nam, chúng ta không thấy những sách Phật giáo Việt Nam xưa nói đến, phải chăng xứ Tân châu nằm ở Quảng Ðông ngày nay, đất nầy thuộc Trung Quốc từ lâu vả lại Lục tổ cũng là người Trung Quốc nên các sách Phật giáo xưa đều không nói tới. Hơn nữa, trong Kinh Lăng Già Tâm Ấn do Thiền sư Thích Thanh Từ dịch năm 1975 phần Lăng già tâm ấn duyên khởi, Kim Vô một Thiền sư Trung Hoa viết ” … Ðến năm Mậu Tuất ( 1641 ), Ngài trở về Lãnh Nam. Kim Vô tôi năm sau từ Ngọc Môn tìm đến …”, như vậy, Lãnh Nam của Huệ Năng và của Kim Vô nói tới có thể là một và nó là đất Trung Hoa mà thôi.

Phương pháp thực hành.

Phương pháp thực hành của Lục Tổ được Ngài tạo thành một pháp môn Vô Niệm mà Ngài có nói rõ, lấy vô niệm làm tông, vô tướng làm thể và vô trụ làm gốc. Ngài dạy vô niệm là đối với chuyện nghĩ mà không nghĩ, Vô Tướng là đối với tướng mà rời khỏi tướng và Vô Trụ là chẳng trụ vào mỗi điều nghĩ, tức là không bị trói buộc.

Chúng ta có thể tìm hiểu thêm về tông vô niệm của Ngài do chính Ngài giảng: Sao kêu là vô niệm? Biết và thấy tất cả các pháp mà lòng chẳng chấp nê, thấm nhiễm, ấy là vô niệm. Dùng đến liền biến khắp mọi nơi, cũng chẳng chấp nê hết thảy mọi nơi. Chỉ cốt trong sạch lòng mình, khiến cho sáu thức ra khỏi sáu cửa, ở trong lục trần mà không tạp, không nhiễm. Qua lại tự do, không dụng không trệ, tức là Bát Nhã Tam Muội, tự tại giải thoát gọi là hạnh vô niệm. Nếu đối với trăm vật chẳng nghĩ, rồi khiến cho niệm tuyệt, tức là hành pháp trói buộc, đó kêu là biên kiến.

Hỡi chư thiện tri thức! Hể ai ngộ được pháp vô niệm thì thấy cảnh giới của chư Phật. Hễ ai ngộ được pháp vô niệm tức đạt được địa vị Phật.

Ðể dạy người ta thực hành pháp vô niệm, Lục Tổ có 2 bài kệ, chúng tôi chọn một bài trích ra đây, vì thấy rằng nó đầy đủ hơn bài kia:

Thuyết thông với tâm thông với hai tướng,
Như mặt trời treo tượng hư không
Chỉ truyền thấy tánh pháp dòng
Ra đời phá bể tà tông ra ngoài.
Pháp chẳng cứ hai loài tiệm đốn
Chậm mau do ở chốn tỉnh mê
Cửa này thấy tánh thì về
Người ngu che lấp chẳng hề tỉnh ra
Dầu giảng thuyết rộng xa muôn dặm
Mà lý thì hiệp lại một đường
Trong nhà phiền não mơ màng
Mặt trời huệ tỏ nên thường mọc ra
Hễ tà lại tức là phiền não
Hễ chánh về phiền não trừ đi
Chánh tà đều chẳng dùng chi
Một lòng thanh tịnh đến thì không dư
Bồ Ðề vốn chơn như tự tánh
Hễ khởi lòng bất chánh là sai
Tịnh tâm vẫn ở trong sai
Chánh xô ba chướng ra ngoài đạo ngay
Người đời nếu có hay tu lạy,
Hết thảy đều chẳng hại đạo mầu
Lỗi mình mình thấy làu làu
Tức là với đạo hai đầu tương đương
Loài sắc tự nó thường có đạo
Ðều chẳng làm phiền não chi nhau
Lìa đạo, tìm đạo ở đâu?
Trốt đời chẳng thấy đạo mầu nơi nao
Một đời những lao đao vì đạo
Rốt cuộc rồi áo não lấy thân
Muốn tìm cho thấy đạo chơn
Làm ngay thì đạo xây vần tới ngay
Tự mình nếu không hay có đạo
Làm quấy thì thấy đạo là gì.
Kẻ nào thiệt dạ tu trì
Tự nhiên chẳng thấy lỗi chi ở đời
Nếu mình thấy những người làm quấy
Mình quấy theo kẻ ấy thấp thay
Quấy ai ta chẳng quấy lây
Nếu ta cũng quấy lỗi rày ở ta
Vậy ta hãy ruồng xa lòng quấy
Phiền não trừ chẳng thấy não phiền
Ghét yêu chẳng bận lòng thiền
Ruỗi dài hai cẳng nằm yên một giường
Với người khác tìm phương khuyến thiện,
Tự mình nên phương tiện tùy cơ
Chớ cho họ có lòng ngờ.
Tức là tự tánh bây giờ hiện ra
Pháp Phật ở đời ta như vậy
Chẳng lìa đời mà thấy riêng bề
Lìa đời kiến đạo bồ đề
Như tìm sừng thỏ chẳng hề thấy đâu
Chánh kiến ấy tên đầu xuất thế
Tà kiến là tiếng để thế gian
Chánh tà quét sạch một làn
Tánh bồ đề sẽ chan chan hiện trần.
Tụng nầy ấy là phần đốn giáo
Cũng kêu tên là đại pháp thuyền
Mê thì hằng kiếp liên miên
Tĩnh thì giây lát cũng liền thành luôn.

Về pháp môn thiền định Lục Tổ dạy: Hỡi chư thiện tri thức! Sao kêu là thiền định? Bên ngoài rời khỏi tướng là thiền. Bên trong chẳng loạn là định. Bên ngoài mắc lấy tướng thì ở bên trong liền loạn. Bên ngoài nếu rời khỏi tướng, thì tâm liền chẳng loạn. Bổn tánh tự tịnh, tự định; chỉ vì thấy cảnh mà nghĩ đến cảnh liền loạn. Nếu thấy các cảnh mà tâm chẳng loạn, đó mới thiệt là định vậy.

Hỡi chư thiện tri thức! Ngoài rời khỏi tướng tức là thiền; trong chẳng loạn tức là định; ngoài thiền trong định đó tức là thiền định. Kinh Bồ Tát Giới chép rằng: “Bổn tánh của ta nguyên tự nó thanh tịnh”.

Hỡi chư thiện tri thức! Ở trong mỗi lúc, mỗi giây nghĩ, tự mình thấy bổn tánh thanh tịnh. Tự mình tu, tự mình hành, tự thành Phật đạo vậy.

Qua đây chúng ta thấy rằng từ tư tưởng căn bản tự tánh bồ đề vốn thanh tịnh, giữ cho tâm mình luôn luôn được thanh tịnh tức là trở về với bổn tánh, khi đã hợp nhất với tự tánh thì Bát Nhã Trí sanh, đạt quả vị Bồ Ðề, phương pháp để đạt được là phải thiền định.

Phương pháp thiền của Lục Tổ như trên đã nói tức là giữ cho tâm được thanh tịnh không suy tư như Phật đã dạy: “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” để đáp lại câu “vân hà hàng phục vọng tâm?”

Chính vì vậy mà các Thiền Sư có lối la, hét, đánh đá những nhà Sư, trong các trường hợp các nhà Sư suy nghĩ để trả lời câu hỏi của Thiền Sư, bởi vì có suy nghĩ là còn đi ngược lại phương pháp Thiền Ðịnh của Lục Tổ rồi.

Tổ đã nói trong bài kệ trên:

Bồ Ðề vốn chơn như tự tánh
Hễ khởi lòng bất chánh là sai
Tịnh tâm vẫn ở trong sai.
Chánh xô ba chướng ra ngoài đạo ngay

Nguyên văn:

Bồ Ðề bổn tự tánh.
Khởi tâm tức thị vọng.
Tịnh tâm tại vọng trung.
Ðản chánh vô tam chướng.

Hiểu được phương pháp căn bản này thì chúng ta thấy có những câu Tổ hỏi và những câu các đồ đệ trả lời không có liên quan chút nào hết, điều này nó thực chứng cho hành giả có giữ được bổn tánh thanh tịnh hay không.

1- Chẳng hạn Triệu Châu đến chỗ Thiền Sư Hoàng Bá Hy Vận, Hoàng Bá thấy Sư đến liền đóng cửa phương trượng. Sư lấy lửa đem vào pháp đường kêu:

– Cứu lửa, cứu lửa!

Hoàng Bá mở cửa, nắm Sư đứng lại, bảo:

– Nói! Nói!

Sư bảo:

– Cướp qua rồi mới trương cung.

2- Sư Lâm Tế Nghĩa Huyền đến hỏi Thiền Sư Hoàng Bá:

– Thế nào là đại ý Phật pháp?

Hoàng Bá liền đập cho một gậy. Sau Sư lại hỏi hai lần nữa, cũng bị mỗi lần một gậy. Sư Lâm Tế phải từ giã sang tham vấn Thiền Sư Ðại Ngu, thuật lại sự việc trên, và hỏi rằng như vậy có lỗi hay không mà bị đánh như thế. Ðại Ngu nói: Hoàng Bá dạy ngươi thống thiết, tại ngươi còn tìm lỗi”. Ngay câu nầy Sư Lâm Tế tĩnh ngộ.

Còn Ngài Ðại Ngu lúc còn đi học đạo, đến chào từ biệt Thiền Sư Trí Thường (Qui Tông). Ngài Trí Thường hỏi:

– Ði đâu?
– Ði các nơi học ngũ vị thiền.
– Các nơi ngũ vị thiền, ta trong ấy chỉ có nhất vị thiền.
– Thế nào là nhất vị thiền?
Ngài Trí Thường liền đánh. Ðại Ngu nhờ vậy đại ngộ, thưa:
– Ngưng, con hội rồi.
– Nói! Nói!
Ðại Ngu vừa nghĩ trả lời.
Ngài Trí Thường liền đánh đuổi đi.

3- Thiền Sư Qui Sơn Linh Hựu cùng chúng đi hái trà. Thiền Sư bảo Huệ Tịch:

– Trọn ngày hái trà chỉ nghe tiếng con mà chẳng thấy hình con, hãy hiện bổn hình cho ta thấy coi.
Huệ Tịch liền đập cây trà.
Thiền Sư bảo:
– Con chỉ được cái dụng của nó. Chẳng được cái thể của nó.
Huệ Tịch thưa:
– Chưa biết Hòa Thượng thế nào?
Thiền Sư im lặng. Huệ Tịch nói:
– Hòa Thượng chỉ được cái thể của nó, không được cái dụng của nó.
Thiền Sư bảo:
– Cho con hai chục gậy.

4- Thiền Sư Ðơn Hà một hôm thượng đường tay nắm con mèo giơ lên bảo đồ chúng ai nói được sẽ tha con mèo còn không thì sẽ giết nó. Mọi người đều yên lặng. Thiền Sư liền chặt đứt đầu con mèo.

Khi Ngài Triệu Châu về tới, Thiền Sư nói lại câu chuyện, Triệu Châu bèn cỡi giày đội lên đầu. Thiền Sư Ðơn Hà bảo: “Giá khi nãy có ngươi thì đã cứu được con mèo.” Có vị cho rằng Triệu Châu đã lấy đôi giày là cái ti tiện để trên đầu là chỗ cao quí, tức là muốn nói không có quí tiện, không phàm thánh, vượt ngoài đối đãi. Ðó là một nghĩa nhưng cũng còn có một nghĩa nữa là đừng có suy nghĩ, Ngài chặt đứt đầu con mèo cũng là hành động dứt khoát chặt đứt mọi tư lương, phải quấy, thiện ác…. Hiểu như vậy thì hành động của Triệu Châu đầy ý nghĩa giữ đúng tông phong của Lục Tổ.

Kết quả hoằng hóa của Lục Tổ.

Năm 24 tuổi xuất gia, hơn 8 tháng giã gạo, sàng thóc tại chùa Ðộng Thiền huyện Hoàng Mai. Sau bài kệ trình kiến giải, canh ba đêm sau được Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn chứng đắc rồi trao truyền Y , Bát và đưa lên đường về phương Nam để lánh nạn và hoằng dương chánh pháp sau nầy.

Từ Hoàng Mai xứ Kỳ Châu, Lục Tổ đã lánh nạn ở Thiều Châu. Lúc ở thôn Tào Hầu, lúc vào rừng ở huyện Từ Hội sống với bọn thợ săn, trải qua hơn 15 năm. Sau đó Lục Tổ mới đến chùa Pháp Tánh ở Quảng Châu gặp Hoà Thượng Ấn Tông, Ấn Tông xuống tóc và tổ chức lễ cho Ngài thọ cụ túc giới, từ đây Ấn Tông tôn thờ Lục Tổ làm thầy.

Tại chùa Pháp Tánh Lục Tổ đã khai pháp môn tại đây, năm sau Ngài về chùa Bảo Lâm ở Tào Khê hoằng hoá thiền tông, xiển dương chánh pháp trong 37 năm.

Mấy tháng cuối cùng Ngài về chùa Sắc Tứ Quốc Ân ở Tân Châu, nơi Ngài đã sanh để tịch.

Trải qua 52 năm kể từ ngày được truyền Y, Bát chứng đắc pháp môn. Lục Tổ đã lánh nạn tức là bảo vệ chánh pháp 15 năm. Mười lăm năm nầy ai đã từng trải qua những ngày tháng ẩn cư lánh nạn, chịu đựng bao nỗi vất vả về vật chất lẫn tinh thần, mới thấy hết ý nghĩa vì nhiệm vụ được truyền trao bảo vệ và hoằng dương chánh pháp của Ngài.

Ba mươi bảy năm thuyết pháp độ sanh, Lục Tổ đã giúp cho kẻ ngộ đạo cao siêu rất nhiều từ vua, quan cho đến thứ dân ở kinh đô cũng như ở chốn hoang dã. Những vị được nối pháp có 43 người; những vị mà chúng ta thường nghe nhắc đến trong sách thiền, trong các câu chuyện về thiền như:

Thiền Sư Hành Tư, Hoài Nhượng, Huyền Giác, Thần Hội, Pháp Hải, Quốc Sư Huệ Trung.

Thiền Sư Hoài Nhượng (667-744) truyền đến Ðạo Nhất (709-788). Thiền Sư Ðạo Nhất truyền đến Hoài Hải (720-814), Thiền Sư Hoài Hải truyền cho Vô Ngôn Thông (?-826) sang Việt Nam lập phái thiền Vô Ngôn Thông, Thiền Sư Hoài Hải truyền đến Linh Hựu (751-853), đệ tử của Linh Hựu là Huệ Tịch (804-899) lập ra phái thiền Qui Ngưỡng Tôn. Cùng Ngài Hoài Hải truyền đến Hy Vận (?-850) có đệ tử là Nghĩa Huyền (?-867) lập ra Lâm Tế Tôn. Kể từ Lục Tổ đến Ngài Vô Ngôn Thông là đời thứ 4 và Ngưỡng Sơn Huệ Tịch cùng Lâm Tế Nghĩa Huyền là đời thứ 5 thiền tông ở Trung Quốc đã sớm phân phái.

Còn Thiền Sư Hành Tư ( ?-740) truyền cho Hy Thiên (700-790), Thiền Sư Hy Thiên truyền cho Duy Nghiễm (751-834), Thiền Sư Duy Nghiễm truyền cho Ðàm Thạch (728-841), Thiền Sư Ðàm Thạch truyền cho Lương Giới (807-869), Thiền Sư Lương Giới truyền cho Bổn Tịch (840-901). Thiền Sư Bổn Tịch lập ra Tào Ðộng Tôn.

Cũng là đệ tử của Ngài Hy Thiên là Ðạo Ngộ (747-816). Thiền Sư Ðạo Ngộ truyền cho Sùng Tín (?), Thiền Sư Sùng Tín truyền cho Huyền Giám (780-865), Thiền Sư Huyền Giám truyền cho Nghĩa Tồn (822-908), Thiền Sư Nghĩa Tồn truyền cho Văn Uyển (?-949).

Thiền Sư Văn Uyển lập ra Vân Môn Tôn.

Ngài Nghĩa Tồn cũng truyền cho Sư Bị (835-908), Thiền Sư Sư Bị truyền cho Quế Sâm (867-928), Thiền Sư Quế Sâm truyền cho Văn Ích (885-958).

Thiền Sư Văn Ích lập ra Pháp Nhãn Tôn.

Phái của Ngài Hành Tư đến đời thứ Sáu thì lập Tào Ðộng Tôn, đời thứ Bảy lập Vân Môn Tôn và đến đời thứ Chín lập ra Pháp Nhãn Tôn.

Phái Lâm Tế đời thứ 18 có Thiền Sư Huệ Nam (1002-1069) ở Hoàng Long lập ra hệ phái Hoàng Long và Thiền Sư Phương Hội (?-1054) ở Dương Kỳ lập ra phái Dương Kỳ hoàn tất việc lập năm tôn và chia ngủ phái thiền của Tổ Huệ Năng ở Trung Quốc.

Ở Việt Nam phái thiền Vô Ngôn Thông cũng là phái thiền của Ngài Huệ Năng thuộc hệ phái của Ngài Nam Nhạc Hoài Nhượng.

Tào Ðộng Tôn cũng có truyền đến miền Bắc nước ta, còn miền Trung và Nam Lâm Tế Tôn có phái Nguyên Thiều và Liễu Quán nhưng phái của Ngài Nguyên Thiều được truyền bá rộng rãi.

Nếu muốn xem Video clip về Lục Tổ, xin quý vị click vào các liên kết sau: