Trang chủ 04-Đạo Phật Bí mật trong “Các vị La Hán chùa Tây Phương” (2)

Bí mật trong “Các vị La Hán chùa Tây Phương” (2)

713
0

… “Không thể có cách nào để giải thoát nỗi buồn, nghệ sĩ đành gửi gắm nó trên những đường nét chạm khắc. Như vậy cả nghệ thuật cũng cần phải được giải phóng mới có thể vươn tới những giá trị mới mẻ, mới thực sự có ích cho cuộc đời…”

Bí mật trong “Các vị La Hán chùa Tây Phương” (2)

… “Không thể có cách nào để giải thoát nỗi buồn, nghệ sĩ đành gửi gắm nó trên những đường nét chạm khắc. Như vậy cả nghệ thuật cũng cần phải được giải phóng mới có thể vươn tới những giá trị mới mẻ, mới thực sự có ích cho cuộc đời…”

PV: Mặt cúi, mặt nghiêng, mặt ngoảnh sau
Quay theo tám hướng hỏi trời sâu
Một câu hỏi lớn không lời đáp
Cho đến bây giờ mặt vẫn chau

Trong cuộc họp mặt lạ lùng của những nỗi đau thương hiện thân trong các pho tượng, phải chăng mỗi một trầm luân ấy cũng đã từng bối rối, dằn vặt để tìm cho mình một con đường? Câu thơ khắc tạc những nét thật ấn tượng: “Mặt cúi, mặt nghiêng, mặt ngoảnh sau”. Khao khát ghê gớm, nhưng trớ trêu thay mọi sự tìm đường đều lâm vào bế tắc, tuyệt vọng. “Câu hỏi lớn” đã không có lời đáp.

Huy Can 1

Nhà thơ Huy Cận: Câu hỏi về ý nghĩa cuộc đời là một câu hỏi lớn mà chưa từng có ai trả lời rõ ràng được. “Một câu hỏi lớn không lời đáp”. Chế Lan Viên đặc biệt thích câu thơ này và nhà thơ nhiều lần nhắc đến nó. “Cúi”, “nghiêng”, “ngoảnh sau”, là những động từ dựng lên nỗi khắc khoải khi quay tám hướng mười phương để tìm ra lời đáp số mệnh của mình. Quả con người đang bị một thúc bách ghê gớm. Nhưng câu hỏi đó, cái ý nghĩa mà con người trăn trở từ ngàn đời thật là một điều khó khăn mà dường như phải mất rất nhiều thời gian người ta cũng chỉ hiểu lờ mờ chút ít.

“Một câu hỏi lớn. Không lời đáp”. Chúng ta phải chú ý đến hình thức câu thơ này. Dấu chấm câu đặt giữa dòng thơ là một điều đặc biệt. “Một câu hỏi lớn”. – dấu chấm dừng câu ở đây tạo cho người đọc cảm giác có đoạn dừng suy ngẫm để nhận ra ngay câu trả lời cho nó là “Không lời đáp”. Tuy nhiên sự không bình thường ở dòng thơ này phải tương ứng với dòng thơ trên. Ở dòng thơ trên tác giả dùng 3 thanh trắc liên tiếp ở giữa câu: “Quay theo tám hướng hỏi trời sâu”. Nếu không nhằm một mục đích nào đó thì việc dùng 3 âm trắc này rất có vẻ “nghịch tai”. Vậy mục đích của tác giả ở đây là gì? Là nhằm nêu bật được nỗi băn khoăn khắc khoải, sự cố gắng đến tuyệt vọng của con người trong khát vọng đi tìm ý nghĩa của cuộc đời.

PV: Chính câu hỏi “không lời đáp” ấy khiến cho bao nhiêu kiếp người dằn vặt “cho đến bây giờ mặt vẫn chau”.
Có thực trên đường tu đến Phật
Trần gian tìm cởi áo trầm luân
Các vị đau theo lòng chúng nhân

Ở đây có một câu hỏi của tác giả cho chính tinh thần của Phật giáo. Có phải tu hành là con đường duy nhất để thoát khỏi nỗi đau khổ của đời sống không? Phải chăng không còn con đường nào khác? Tại sao khi đã tìm con đường tự cứu chuộc mình rồi các La Hán vẫn còn đau theo nỗi đau nhân thế?

Nhà thơ Huy Cận: Ngay đầu khổ thơ, hai chữ “có thực” đã tỏ rõ thái độ nghi ngờ đối với con đường tu hành rồi. Theo tinh thần Phật giáo, hình hài buồn thảm, nét mặt mang những nét bi thương kia chỉ ở trong quá trình tự tranh đấu để trút bỏ mọi dục vọng để vươn tới sự thanh thản, yên tĩnh vĩnh hằng. Trạng thái đau khổ là trạng thái cuối cùng mà người tu tập phải trải qua. Và trần gian chỉ là nơi tôi luyện, thanh lọc, là nơi người ta sống tạm trước khi tới được Niết Bàn.

Đối lập Niết Bàn, cuộc đời tục lụy chỉ là bể khổ và người ta sống trong đó, bị đọa đày như một định mệnh. Tôi không chia sẻ quan điểm này, vì với con người họ chỉ được sống một lần nên đời sống phải là tất cả, và ở đó người ta có đầy đủ khả năng để tìm thấy hạnh phúc. Nhưng bởi vì khi từng cá nhân còn tách biệt với xã hội, với cộng đồng, các cá nhân không tìm đến với nhau để hướng đến con đường giải phóng chung thì mỗi người tất phải chịu một bi kịch. Điều này có lẽ là quan trọng nhất cho “câu hỏi lớn” ở trên.

“Bấy nhiêu quằn quại run lần chót” không phải là một câu hỏi mà là lời than thở. Những đời sống riêng rẽ sẽ mãi còn chìm ngập trong mênh mông bể khổ, sẽ lặp đi lặp lại theo “sóng biển luân hồi”. Chỉ đến chừng nào xã hội được giải phóng thì tự những cá nhân sẽ tìm thấy hạnh phúc, sẽ sống cõi Niết Bàn ngay trong nhân quần thân ái của mình.

PV: Nào đây bác thợ cả xưa đâu
Sống lại cho tôi hỏi một câu:
Bác tạc bấy nhiêu hình khổ hạnh
Thật chăng chuyện Phật kể cho nhau

Tới khổ thơ này, mạch ngầm của bài thơ đã thay đổi hẳn, thi sĩ không còn có vẻ “bàng quan” mô tả nỗi đau khổ của từng kiếp sống nữa, những bức tượng thực làm chất liệu cho bài thơ bị mờ đi. Tâm sự của thi sĩ bắt đầu bùng nổ. Thi sĩ tự vấn hỏi mình, tự vấn hỏi ý nghĩa và giá trị của nghệ thuật: Phải chăng nghệ thuật chỉ miêu tả cuộc sống một cách thờ ơ? Phải chăng nghệ thuật chỉ nhằm minh họa cho một số tư tưởng nào đó, chỉ là những “chuyện Phật kể cho nhau”?

Nhà thơ Huy Cận: Đúng! Nghệ thuật không phải miêu tả cuộc sống như vậy. Để trả lời cho những câu hỏi đó và cũng là để hiểu tâm sự của chính tác giả, bạn đọc cần nhận thấy một sự dứt khoát trong ý tưởng ở khổ thơ này. Trong câu thứ tư ở các âm trắc “chuyện Phật kể” nhấn mạnh một lần nữa với dấu hỏi ở cuối câu. Người nghệ sĩ khi tạc những “hình khổ hạnh” ấy hẳn phải thấu hiểu cái đau chung của mọi người. Bởi nếu chỉ biết đau nỗi đau riêng mình thì không thể tạc được nhiều trạng thái đau khổ như thế.

“Nào đâu, bác thợ cả xưa đâu?”, người đã nhìn thấy “bấy nhiêu tâm sự, bấy nhiêu đời” đang quằn quại và đau đớn trong cơn “gió bão” của đời sống, của kiếp người. Từ hình hài của những bức tượng, hình ảnh cha ông, hình ảnh những thế hệ trước hiện dần lên trong tâm hồn thi sĩ bằng xương máu. Nghệ thuật có khả năng khơi gợi cảm thông, làm cho người ta thấu hiểu nhau là vì thế.

PV: Như vậy, người “thợ cả” xưa đã cảm nhận được nỗi đau khổ của cộng đồng, đã chia sẻ được nỗi đắng cay của người khác. Nhưng cảm nhận, chia sẻ được, tạo nên được các tác phẩm nghệ thuật để lưu danh nỗi niềm ông cha với hậu thế, nhưng cho dù:

Nung nấu tâm can, vò võ trán thì
Đau đời có cứu được đời đâu

Trong câu này, một lần nữa thủ pháp nhấn mạnh vào ba âm trắc giữa câu lại được sử dụng: “Có cứu được” như một lời cảnh tỉnh đối với nghệ thuật. Chúng ta có thể liên hệ tới hoàn cảnh xã hội cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19. Ví dụ một thiên tài như Nguyễn Du cũng không thể chỉ ra con đường để giải thoát cho nỗi đau khổ của nhân quần lúc bấy giờ…

Hai vi La Han chua Tay Phuong 1

Nhà thơ Huy Cận: Đó chính là điều mà tôi dằn vặt suốt 20 năm trời, thời gian ấp ủ bài thơ này. Để chỉ ra ý nghĩa cuộc sống hiện tại cũng cần phải có nỗi đau nhân thế. Nhưng chỉ chỉ ra thôi thì chưa đủ, mà còn phải tìm được lối đi cho những nỗi đau khổ ấy. Hàng thế kỷ con người bị những gánh nặng tinh thần và cuộc sống là sự “dậm chân một chỗ”. Không một chút hạnh phúc nào soi rọi tới. Bao nhiêu kiếp sống lầm than “sờ soạng” “tìm lối ra” mà vẫn bị chìm đắm, vây bủa trong màu đen của cuộc đời:

Có phải thế mà trên tượng Phật
Nửa như ám khói, nửa sương tà

Không nên hiểu rằng ở đây sương khói phủ mờ tượng Phật mà chính là phủ mờ tâm hồn nghệ sĩ – người tạc tượng. Không thể có cách nào để giải thoát nỗi buồn, nghệ sĩ đành gửi gắm nó trên những đường nét chạm khắc. Như vậy cả nghệ thuật cũng cần phải được giải phóng mới có thể vươn tới những giá trị mới mẻ, mới thực sự có ích cho cuộc đời.

PV: Tức là 20 năm trăn trở vì hình ảnh của Các vị La Hán chùa Tây Phương cũng chính là 20 năm chiêm nghiệm về con đường giải phóng của nghệ thuật. Nếu như trong nhiều thế kỷ trước, nghệ thuật bị “nửa như khói ám, nửa sương tà” thì nay sương khói mờ mịt ấy đã được xua đi – “xua bóng hoàng hôn, tản khói sương”, nghệ thuật đã tìm ra con đường tươi sáng. Hai ý thơ đối nhau này nhằm để làm nổi bật, để khẳng định giá trị của đời sống mới, của ánh sáng mới cho nghệ thuật…

Nhà thơ Huy Cận: Khi tôi viết bài thơ này, cuộc kháng chiến chống Pháp oanh liệt của dân tộc ta vừa kết thúc , Miền Bắc bước vào công cuộc xây dựng và phục hưng đất nước. Một khí thế háo hức và một tương lai rạng rỡ mở ra trước mắt mỗi người. Cái ấn tượng đau đớn, khốn khổ, sờ soạng, quằn quại, vò võ của những bức tượng là cái ấn tượng đầu tiên khi tôi lên thăm chùa Tây Phương. Nó là ấn tượng đầu tiên và đồng thời cũng là của câu hỏi đằng đẵng theo tôi 20 năm trời.

Sau 20 năm tôi trở lại thì “Hôm nay xã hội đã lên đường”, một cuộc sống tươi trẻ đã bắt đầu, tương lai được rộng mở, câu hỏi về ý nghĩa cuộc đời được giải đáp và tôi có cảm giác như “mặt tượng dường tươi lại”. Tâm sự của nhà thơ lúc ấy “đồng thanh tương ứng” với nhịp sống hân hoan của cuộc đời. Những bước đi vấp ngã, những bi kịch, bế tắc trên con đường đi tìm sự giải phóng và nỗi đau đời của cha ông trong quá khứ đền đáp. Nên tôi viết:

Cha ông yêu mến thời xưa cũ
Trần trụi đau thương bỗng hóa gần
Những bước mất đi trong thớ gỗ
Về đây, tươi vạn dặm đường xuân

Hai câu kết là một sự liên tưởng thật độc đáo và giàu hình tượng nghệ thuật. Nó được báo hiệu trước từ khi tác giả cảm nhận thấy “mặt tượng dường tươi lại”, “những bước mất đi”, những hạnh phúc đơn sơ mà con người xưa kia chưa được hưởng, những niềm vui của kiếp sống mà cha ông chưa nhận thấy được sống lại và “về đây, tươi vạn dặm đường xuân”.

PV: Cuối cùng, nhà thơ có một lời nào cho các độc giả?

Nhà thơ Huy Cận: Tôi chỉ có ý nghĩ thế này: Chúng ta nên nghĩ đến các thế hệ trước, nghĩ đến những nỗi đau khổ của cha ông và bằng cách ấy ta càng mến yêu hơn cuộc sống của chúng ta hiện nay.

PV: Xin cảm ơn nhà thơ!

Trần Thanh (thực hiện)
chuaanlac.org đăng lại