Trang chủ 04-Đạo Phật Ngũ giới

Ngũ giới

688
0

NGŨ GIỚI

Tuyển Tập Một Số Bài Giảng
Của Hòa Thượng Thích Thanh Từ
Nhà xuất bản: Phương Đông 2012

MỞ ĐỀ

Nhân loại hiện đang sống trong hồi hộp lo âu, trong hãi hùng kinh sợ, cho đến cảnh máu sông biển lệ đều bởi mọi người không biết giữ “ngũ giới mà ra”. Ngày nào nhân loại thức tỉnh, biết áp dụng “ngũ giới vào đời sống thực tế, ngày ấy thế gian đau khổ này sẽ trở thành thiên đường hiện tại.

Chẳng những thế, ngũ giới còn công dụng làm cơ bản người đến chỗ giải thoát an lạc. Người đã phát tâm quy y Tam Bảo là đã bước chân len nấc thang giải thoát, nhưng nếu không giữ giới mà chỉ bước nấc thang đầu rồi dừng lại, không thể tiến đến giải thoát thật sự được. Vì thế, sau khi quy y mỗi người cần phát nguyện giữ giới để mạnh tiến trên đường giải thoát.

ĐỊNH NGHĨA

Ngũ giới là năm điều răn cấm do đức Phật chế ra. Năm điều này y cứ trên tâm từ bi, trên phương diện dứt trừ tội lỗi mà thành lập. Đức Phật không bắt buộc chúng ta phải giữ, nhưng để cho tâm từ bi tăng trưởng, cho tội lỗi tiêu trừ, mỗi chúng ta phải phát nguyện giữ gìn. Bởi vì giáo lý của Phật là những phương thuốc cứu khổ chúng sinh, chúng sinh muốn thoát khổ phải y theo đó tu hành và tuân theo lời răn cấm của Ngài. Như ông lương y chế những phương thuốc hay trị lành mọi căn bệnh của bệnh nhân, nhưng trước khi uống thuốc, bệnh nhân phải triệt để theo lời ông dạy và phải vâng giữ những lời ông bảo phải kiêng. Bệnh nhân biết kiêng cữ đúng pháp thì thuốc mới hiệu nghiệm. Cũng thế, chúng sinh biết vâng giữ giới luật thì tu theo đạo Phật mới thật sự giải thoát.

Tất nhiên, giới luật Phật không bắt buộc chúng ta giữ hết. Tùy khả năng, hoàn cảnh, mỗi người giữ được bao nhiêu, tốt bấy nhiêu. Bởi vì giới là những cái cửa của ngôi nhà công đức, nếu chúng ta đóng được một cửa thì đỡ một phần giữ gìn trộm cướp, đóng hai cửa thì đỡ hai phần, đóng trọn vẹn thì chúng ta hoàn toàn an ổn, mặc tình vui chơi an nghỉ. Thế nên, “năm giới” rất cần thiết và hệ trọng đối với người đời.

NĂM GIỚI

Năm giới là: Không giết hại, không trộm cướp, không tà dục, không nói dối và không uống rượu.

1. KHÔNG GIẾT HẠI

Nghĩa là không được giết hại sinh mạng, từ loài người cho đến các loài vật. Bời vì mạng sống có một giá trị tuyệt đối, đối với loài người cũng như với muôn vật. Cho nên giết sinh mạng kia để tô bồi sinh mạng này là điều không hợp lý đạo.

Chúng ta ai cũng coi sinh mạng mình là điều đáng tôn trọng tuyệt đối. Nếu có ai muốn mưu hại là mình chống trả triệt để, để bảo tồn sinh mạng. Mình đã biết quý trọng sinh mạng mình, tại sao lại ưng chà đạp trên sinh mạng người? Suy rộng ra các loài vật cũng biết quý trọng mạng chúng. Như khi một con bò hay một con heo sắp bị đập đầu, thọc quyết, ta thấy sự phản kháng của nó mãnh liệt, sự đau thương cùng cực, bằng những tiếng kêu gào, những cái giãy giụa thoát chết! Chiếu theo lẽ công bằng đều ta không muốn ai làm cho ta, thì ta đâu nỡ gieo cho kẻ khác hay loài khác. Vì lẽ để tôn trọng sinh mạng của mọi loài, để hợp lý công bình, đức Phật cấm giết hại người và các loài vật.

Lại nữa, lòng từ bi của đức Phật xem mọi loài như con, nên Ngài không đồng ý cho đệ tử Ngài sát hại sinh vật bất cứ trong trường hợp nào. Bởi vì đang tâm giết hại sinh mạng là lòng độc ác đã cực thịnh, tâm từ bi bị bóp chẹt. Nhẫn tâm vô cớ giết một con vật, tính bạo ác không kém giết hại một người. Ta hãy nghe: “Một quần chúng ung dung cắt xẻo thân hình một nạn nhân cô thế vốn tỏ ra một tính tàn khốc, đốn mạt. Nhưng đối với một triết học gia, sự tàn khốc rất đồng tình với lòng hiểm ác của kẻ đi săn hợp nhau lại hằng mấy chục người để được cái hứng thú nhìn đoàn chó săn của mình phanh thây một con vật khốn nạn” (Tâm lý quần chúng). Chính Khổng Tử đã bảo: “Văn kỳ thinh bất nhẫn thực kỳ nhục, kiến kỳ sinh bất nhẫn kiến kỳ tử”. Nghĩa là: Nghe tiếng kêu la của một con vật không nỡ ăn thịt nó, thấy nó sống không đành thấy nó chết. Như vậy, người có tâm từ bi hay lòng nhân đều không nỡ sát hại người hay vật.

Khi nghe tiếng kêu thống thiết của một người, một con vật thì ta biết họ đang oán hận tràn trề. Họ vì cô thế, vì yếu sức nên bị ta giết hại. Trong khi ấy, họ ôm mối căm hận, chờ gặp dịp báo thù. Cứ thế, mỗi ngày ta đều gieo căm hận cho người và vật, tích lũy lâu ngày khối oan gia ấy to hơn sức ta, chừng ấy ta sẽ bị nó sát phạt lại. Tổ Sư Diên Văn đã than:

Thiên bá niên lai uyển lý canh,

Oán thâm như hải hận nan bình;

Dục tri thế thượng đao binh kiếp?

Thã thính đồ môn bán dạ thinh!

Dịch:

Hằng ngày giữa bát canh ăn

Oán sâu bể thẳm hận bằng non cao;

Muốn thấy binh lửa thế nào?

Hãy nghe quan thịt tiếng gào đêm thâu!

Càng tạo nghiệp sát càng lao mình vào vòng đau khổ. Phật dạy: “Thường sinh tâm sát hại càng tăng trường nghiệp khổ, mãi xoay vần trong sinh tử, không có ngày ra khỏi” (Kinh Lăng Già). Để giải thoát nghiệp khổ, để đem thế giới lại cảnh thanh bình, đức Phật cấm Phật tử giết hại.

Chẳng những không giết hại, mà Phật còn dạy Phật tử phải cứu mạng phóng sinh nữa. Ai có lâm cảnh tù đày mà được phóng thích, mới thông cảm thấm thía cái cảnh của người hay vật được cứu mạng phóng sinh. Nỗi vui mừng của một người tử tội được ân xá, ngang với nỗi vui mừng của một con vật sắp bị cắt cổ, nhổ lông mà được phóng sinh. Như vậy, tại sao chúng ta không ban vui cho người, cho vật, mà cứ gieo khổ chuốc hờn? Nhân đã gieo thì quả nhất định phải gặt. Người Phật tử lúc nào cũng gieo nhân tốt để gặp quả tốt, cho nên không giết hại mà lại phóng sinh.

Vẫn biết, giết hại là tạo nhân khổ, phóng sinh là gieo nhân vui, nhưng người tại gia còn ăn mặn, còn làm công kia việc nọ thì khó tránh khỏi phạm giới. Ở đây không buộc chúng ta giữ triệt để như thế, chỉ cần giữ phần quan trọng là không giết người và các con vật lớn như: trâu, bò… còn những vật nhỏ như tôm, cá, tránh dần dần được bao nhiêu tốt bấy nhiêu.

Giữ được giới sát sinh, tâm ta sẽ an ổn được đôi phần, vì khỏi lo người thù oán về phương diện giết hại. Thế là chúng ta đã giải thoát một phần oan gia nghiệp báo. Suy rộng, trong xã hội này, nếu mỗi người đều không dám giết hại thì còn phải lo gì sự tang tóc bất ngờ, còn phải sợ gì mạng mình không bảo đảm. Nếu nhân loại đồng giữ giới không giết hại thì đó là một đảm bảo thực tế cho nền hòa bình thế giới vậy.

2. KHÔNG TRỘM CƯỚP

Là không lấy tài sản của người, khi người không bằng lòng cho. Những thứ quý như: ngọc, ngà, vàng, bạc, ruộng vườn, nhà cửa… cho đến những vật hèn mọn như: trái ớt, cọng rau… thuộc quyền sở hữu của người, người không cho đều không được lấy, ỷ mạnh, bè đảng giựt ngang của người là ăn cướp. Dùng mưu mẹo rình rập lén lấy là ăn trộm. Ăn trộm nhiều hình thức: đo gian, đong thiếu, lừa bịp, dụ dỗ… kể không xiết. Nhưng có thể tóm lại một câu: bất cứ hình thức nào, do lòng tham gạt người lấy của đều là ăn trộm.

Chúng ta không muốn ai lấy của mình, tại sao lại chăm chăm muốn đoạt của người? Như thế trái với lẽ công bằng. Quyền sở hữu cá nhân của ta, ta biết tôn trọng thì ta nỡ nào chà đạp trên quyền sở hữu của người. Với tâm bình đẳng của đức Phật, Ngài không cam thấy đệ tử làm những việc trái lẽ và bất công, nên Ngài cấm không cho trộm cướp.

Một khi vô ý làm mất một vật hay một số tiền, chúng ta dàu dàu buồn khổ, huống nữa lấy trộm của người để người phải khóc than nguyền rủa sao đành? Ai cũng biết: “Tiền tài là huyết mạch con người”. Như vậy kẻ cố cướp đoạt của người tức là cố sát hại sinh mạng người vậy. Người làm trái lẽ công bình cố nhiên luật pháp không bao giờ dung họ. Giả sử hiện tại họ khôn khéo tránh khỏi pháp luật thì vị lại nghiệp khổ không bao giờ tha đâu. Phật dạy: Người tham luyến sắc tài không chịu rời bỏ, cũng như đứa bé luyến một chút mật dính trên lưỡi dao, thè lưỡi liếm, phải bị cái họa đứt lưỡi (Kinh Tứ Thập Nhị Chương). Chính thế vì tham tiền của đã lắm người tự gieo mình trong khám đường, dưới địa ngục. Đây ta hãy đọc bài kệ cảnh tỉnh của Ngài Thái Tông Hoàng Đế:

Tạc xích xuyên tường ý bất hưu,

Thiên ban bách kế khổ vinh cầu;

Kim sinh cầu đắc tha nhân vật,

Bất giác chung thiên thọ mã ngưu.

Dịch:

Khoét vách đào tường chí những đâu,

Ngàn mưu trăm kế luống tham cầu;

Của người dầu có đời này được,

Đời khác luôn luôn kiếp ngựa trâu.

Trộm cướp là một hiểm họa cho người, cho mình, nên Phật tử luôn luôn phải tránh.

Tự mình không trộm cướp là đã giải thoát được ngục tù về tội trộm cướp. Nếu một ngày nào trong xã hội không ai có tâm gian tham trộm cướp thì nhà không đóng cửa, của khỏi giữ gìn, thật còn gì sung sướng hơn! Người ta khổ bởi không có của nhưng kẻ có của nhiều cũng khổ, vì lo sợ giữ gìn. Người không trộm cướp tức là đã âm thầm ban cho mọi người sự an ổn rồi. Hàng Nho tử còn có câu: “Nhân phi nghĩa bất giao, vật phi nghĩa bất thủ”. Huống chúng ta là Thích tử, lại đi trộm cướp hay sao?

3. KHÔNG TÀ DỤC

Là không phạm đến trinh tiết của người, ngoài vợ chồng chính thức. Người Phật tử tại gia được phép có đôi bạn, nhưng phải chính thức rõ ràng. Tất cả sự lang chạ thầm lén không hợp pháp đều phạm giới tà dục. Mỗi người ai cũng muốn gia đình đầm ấm. Con em mình thanh bạch, thì sao đành phá hại gia cang hay làm nhục nhã tông môn người.

Còn gì đau khổ hơn, sống chung một gia đình mà chồng, hoặc vợ có dạ riêng tư tà vạy! Hạnh phúc đâu còn khi chồng vợ không tin nhau? Vì bảo vệ hạnh phúc gia đình mình, danh giá cho chính mình và tông môn mình, người Phật tử không phạm đến hạnh phúc và danh giá của kẻ khác.

Những bọn Sở khanh bao giờ cũng bị xã hội khinh miệt. Họ đến đâu hay gần ai, người ta đều nhờm chán như con chuột ghẻ. Họ để tâm dòm ngó vợ con người ta, chính vợ con họ cũng lăm le vạch sang rào nhà kẻ khác rồi. Khi họ phá hoại hạnh phúc gia đình người, thì chính hạnh phúc gia đình họ đã tan vỡ trước. Phật dạy: “Người ôm lòng ác dục cũng như kẻ cầm đuốc đi ngược gió, quyết bị nạn cháy tay” (Kinh Tứ Thập Nhị Chương). Thật vậy, người có tâm xấu xa đắm mê sắc dục không sớm thì chầy quyết bị hại; nếu không tan nhà mất nước thì cũng gởi sinh mạng trên mũi súng ngọn gươm. Xưa nay biết bao gương đã chứng minh những kẻ mê sắc dục phải tan nhà mất mạng.

Người giữ giới tà dục thanh tịnh thì phẩm giá được nâng cao, gia đình đầm ấm, gần ai, người ta đếu mến chuộng, tin yêu. Kẻ ấy tâm hồn hằng an tịnh, vì không bị sắc dục lôi cuốn xao động.

4. KHÔNG NÓI DỐI

Không nói những lời sai sự thật, khác với ý nghĩ. Thấy thế này nói ra thế khác làm sai lạc sự thật cốt lừa bịp người, hoặc ý nghĩ nột đường nói ra một ngã cốt che đậy sự quấy rối của mình: hoặc vì tâm ác độc nói lời ly gián làm cho ân nghĩa chia lìa, gây cho đôi bên sinh oán thù hờn giận, dùng những lời văn bóng bẩy, những câu nói ngọt ngào để xui người làm quấy, để dụ dỗ người bước vào đường tà; cho đến dùng lời thô bỉ mạ nhục, trù rủa người, những hình thức đó đều thuộc về nói dối cả. Đạo Phật là đạo như thật, người tu theo đạo Phật phải tôn trọng sự thật, nên không được nói dối. Nói dối chẳng những làm sai lạc sự thật, mà còn làm mất lòng tin nhau, gây vô lượng đau khổ.

Lời nói là để phô bày tâm tư và để diễn tả lại những điều tai nghe, mắt thấy của mình cho người khác biết. Nếu lời nói không đúng sự thật thì còn ai dám tin. Mọi người đều không tin thì kẻ ấy có mặt trong xã hội này cũng coi bằng thừa. “Nhân vô tín bất lập” đó là lời dạy của Khổng Tử. Một người nói dối, mười người nói dối cho đến cả xã hội đều nói dối thì nhân loại phải thế nào? Tôi tin anh, tôi mới dám nói chuyện với anh. Tôi tin anh, tôi mới dám nhận lời hứa, lời mời của anh. Tôi tin anh, tôi mới chung vốn làm ăn với anh. Tôi tin anh, tôi mới đem việc kín gia đình ngoài xã hội nói với anh. Nếu tôi không tin anh thì tôi và anh không gần nhau được. Trong một gia đình, một xã hội mà không ai tin ai thì làm sao sống chung. Giả sử gắng gượng sống chung nhưng ôm ấp bao sự nghi ngờ dè dặt thì còn gì là hạnh phúc, là thân mật.

Lời nói tuy không phải là lưỡi kiếm, nhưng nó còn bén hơn lưỡi kiếm. Chỉ một câu nói thôi có thể rụng năm mươi cái đầu. Chỉ một câu nói thôi có thể tan nhà mất nước. Phật dạy: “Phù sĩ xử thế phủ tại khẩu trung, sở dĩ trảm thân do kỳ ác ngôn”. Nghĩa là: Phàm kẻ ở đời, lưỡi búa bén nằm sẵn trong miệng, sở dĩ chém mình do lời nói ác”. Đã đành nói xuyên tạc, nói ly gián là để hại người, nhưng trước khi hại người nó đã hại mình.

Có một số người tưởng nói dối để lừa bịp, qua mặt người là khôn, là hơn người. Nghĩ thế là lầm to! Mỗi khi nói dối người, chính mình đã tỏ ra khiếp nhược. Bởi vì đối diện với người không đủ can đảm nói thẳng, nói thật, nên nói quanh co dối trá. Ai không thấy đứa bé khi làm hư hỏng điều gì, trước mặt cha mẹ, nó đổ thừa người này người nọ, hoặc kiếm lời nói dối để che đậy.Nếu không sợ đòn và mắng thì bao giờ nó nói dối? Như vậy, càng nói dối càng dìm mình xuống hố nhục nhã.

Lời nói rất hệ trọng, chúng ta phải cẩn thận đừng nói cẩu thả mà gieo họa cho người, cho mình. Phải “Uốn lưỡi bảy lần trước khi nói” (Cách ngôn Pháp); hoặc quý trọng giữ gìn lời nói như vàng “Vàng sa xuống giếng khôn tìm, người sa lời nói như chim sổ lồng” (Ca dao Việt Nam).

Người không nói dối là biết tự trọng không để mất giá trị, lại không làm tổn hại người và mình. Mỗi cá nhân không nói dối thì chính họ được an ổn thanh cao. Toàn thể nhân loại đều không nói dối thì xã hội này an lạc hạnh phúc biết bao. Do tin nhau mới mến nhau, mà toàn nhân loại không nói dối thì còn ai không đáng yêu.

Nói dối là một tai nạn lớn lao cho mình và xã hội. Tuy nhiên, cũng có trường hợp nên nói dối, đó là khi nào vì lòng từ bi mà phải nói dối để cứu người hay vật. Nói dối phạm tội là do lòng tham, sân làm động cơ thúc đẩy; ngược lại, nếu lòng từ bi làm động cơ thúc đẩy nói dối là không phạm.

Tóm lại, người tu theo đạo Phật là cầu cho mình, cho người được an lạc, và đem tình thương ban cho nhân loại, nên Phật cấm nói dối, mà phải nói lời chân thật.

5. KHÔNG UỐNG RƯỢU

Tất cả thứ rượu có chất men làm say người đều không được uống. Chính mình không uống, cũng không được mời rủ người uống. Người tu theo đạo Phật cầu giác ngộ. Rượu là thứ làm cuồng mê người, phản bội với trí giác nên không được uống. Bằng chứng, khi bình thường ta đủ lý trí phán đoán lẽ phải quấy, tốt xấu; nhưng khi uống vô một cốc rượu thì cả người nóng rực, tâm mình xao xuyến mất bình tĩnh. Nên nói: “Rượu vào lời ra”.

Người tu quan niệm rượu độc còn hơn thuốc độc. Bởi vì một chén thuốc độc ta uống vào chết ngay, nhưng chỉ chết một thân này, còn uống rượu vào mất giống trí tuệ, phải chết đi sống lại vô số kiếp. Thật tế hơn, người uống rượu nhiều dễ bị say sưa thường nhiễm gió, trúng phong sinh nhiều bệnh nguy hiểm. Chẳng những rượu hại cho họ ở hiện tại mà thôi, lại còn lây đến con cháu. Làm tâm tính đần độn ở sau này nữa. Lại những khi quá chén dễ sinh cãi vã đánh đập làm rối loạn xóm làng, gây đau khổ cho bạn bè, quyến thuộc. Như câu chuyện ngụ ngôn này:

“Một hôm anh nông phu kia ra đồng cày ruộng, bỗng hiện sừng sững trước mặt một vị thần khổng lồ. Ông nói: “Ngươi đã đến số chết, ta đến đây giết ngươi”. Anh nông phu kinh hoàng lạy lục van xin tha mạng. Ông thần bảo: “Nếu muốn ta tha, ngươi phải làm một trong hai việc này: Trưa nay về nhà, ngươi giết chết cha ngươi hoặc uống hết lít rượu để trên bàn”. “Dạ vâng! Trưa nay con xin uống hết rượu”. Ông thần nhìn anh với vẻ lườm lườm chờ đợi, rồi biến mất. Trưa về, vì sắp đến ngày giỗ ông bà, cha anh mua lít rượu để trên bàn đợi mai đãi khách. Anh thấy vội vàng lại chụp lấy, ọc một hơi cạn cốc. Cha anh tức giận, đứa con sinh chứng lạ thường, xốc lại miệng chửi tay đánh túi bụi. Ma men đã thấm, anh không phân biệt phải trái, chụp được cây gậy, đập ông một cây chết tốt! Bà mẹ nóng lòng chạy đến nắm đầu la! Anh trở gậy đập một cây chết luôn! Hàng xóm hay được bắt anh giam. Mấy giờ sau anh tỉnh cơn say, anh hết sức hối hận…”

Người không uống rượu, tâm hồn điềm tĩnh, trí tuệ linh mẫn, gặp việc phán đoán kỹ càng, tu hành chio1ng đắc định, huệ.

Mặc dù Phật cấm uống rượu, nhưng có trường hợp Ngài cho, là khi nào bệnh nặng cần phải uống thuốc rượu mới lành bệnh thì được uống, nhưng phải thưa cho Tăng biết trước, sau mới uống.

Để dễ tu hành và tránh tội lỗi, Phật tử quyết định không uống rượu.

CÔNG DỤNG NĂM GIỚI

Con người có đủ khả năng tiến hóa, mà cũng đủ điều kiện thoái hóa. Người giữ năm giới thanh tịnh là biết cải tạo bản thân mình từ phàm tục đê hèn lên Hiền Thánh thanh cao. Trái lại, kẻ buông lung không giữ năm giới, là từ địa vị con người lần xuống hố ác thú. Vì tính sát hại, cướp giựt, dâm bôn, điêu ngoa, nóng nảy là thú tính, nếu để chúng tăng trưởng tự do trong người, thì người chỉ còn là hình thức con người, chứ tâm hồn đã trở thành lang, sói. Ngược lại, hạn chế được những thú tính ấy, mới là một con người trọn vẹn. Mỗi cá nhân tốt chung sống trong một gia đình thì gia đình trở thành tốt. Nhiều cá nhân tốt chung sống hòa hợp thành một xã hội thì xã hội tốt. Năm giới có công dụng cải tạo con người tốt nên nó là nền tảng xây dựng gia đình và xã hội tốt vậy.

QUYẾT NGHI

Có người nghĩ: loài ruồi, muỗi, rắn, rít, cọp, sói là thứ độc mang vi trùng, ngậm nọc độc giết người, nếu Phật cấm giết hại nó, một ngày kia chúng sinh sản khắp mặt đất thì con người phải tiêu diệt? – Chúng ta phải biết chủ tâm của Phật là cấm giết hại “con người”. Nhưng trên mặt tâm lý muốn khỏi quả lớn – giết người – cần phải dứt trừ những nhân nhỏ – giết các con vật. Những đứa bé khi lên ba, lên năm ra sân gặp chuồn chuồn, bươm bướm chụp, đập, ngắt cánh, bóp đầu. Nếu cha mẹ nó thấy mà không rầy la, đến 12, 13 tuổi chúng sắm ná, giàn thun bắn chim, đến 20, 25 tuổi chúng đâm họng heo, đập đầu bò, vẫn không bị ngăn cấm; tay đã quen giết hại, nên khi giận ai chúng dám đập đầu, đâm họng như thường. Ngược lại, đứa bé bắt chuồn chuồn bị cha mẹ cấm, từ bé đến lớn không dám cắt cổ một con gà, thì khi giận người nó dám đâm chém chăng? Bởi luật pháp cấm quả mà không dứt nhân nên trong xã hội vẫn xảy ra những vụ giết nhau không ngớt. Do đó người Phật tử quyết định không được giết người. Để tránh quả to ấy, dứt lần những nhân gần là không giết các con vật lớn. Còn các con vật nhỏ chỉ tránh không nên giết vô cớ và ác tâm.

Hoặc có người nói: “Trong lúc trẻ tuổi còn phải bay nhảy với đời không thể giữ trọn năm giới, nên tôi chưa tu theo đạo Phật được?” – Phật đâu bắt buộc tu theo Phật giữ hết năm giới, tùy sức mình hoàn cảnh mình , giữ được bao nhiêu cũng tốt, có giữ còn hơn không. Như vậy, đâu phải giữ đủ năm giới mới tu theo Phật được. Xét kỹ ra, trong đời tu ai tệ gì gắng giữ cũng được vài giới thì có ai mà không tu theo đạo Phật được.

KẾT LUẬN

Tóm lại, giới luật Phật chế ra là để ngừa quấy, dứt lỗi, nếu người tu theo đạo Phật mà không giữ giới thì bất thành vấn đề tu. Kẻ trộm cướp, giết hại, lang chạ, điêu ngoa… còn không xứng là một người tầm thường thay, huống chi là kẻ học đạo từ bi, giác ngộ? Trong năm giới mà chúng ta giữ không được trọn vẹn cả năm, còn tự thấy hổ thẹn chưa đáng là một Phật tử thay, phương chi không giữ giới nào thì còn gì là đạo đức? Do đó, người Phật tử phải cố gắng giữ giới cho xứng đáng với danh nghĩa của mình, để đem hạnh phúc cho mình và chúng sanh.

Không riêng gì Phật tử mới giữ “năm giới”, mà toàn thể nhân loại đều phải giữ cả. Bởi vì đã tự nhận mình là con người thì phải hạn chế thú tính nâng cao phẩm giá người. Buông lung phạm “năm giới” là mở cửa cho bầy lợn lòng mặc tình ngao du phá phách; giữ năm giới là làm chuồng câu thúc chúng lại, nâng phẩm giá con người lên cao. Do đó những ai đã có tâm cải tạo con người, xây dựng xã hội, cần khuyên mọi người giữ “năm giới” là phương sách bậc nhất.

Theo thuvienhoasen.org