Trang chủ 01-Chùa An Lạc Vài nét chính về ngôi Chùa An Lạc

Vài nét chính về ngôi Chùa An Lạc

1110
0

Chùa An Lạc xây dựng năm 1970 và hoàn thành năm 1972. Ngày lễ khánh thành chùa vào 19 tháng hai Âm lịch là ngày vía Bồ Tát Quan Âm cùng năm đó (1972). Tác giả bản vẽ kiến thiết chùa là một kiến trúc sư Phật tử Nguyễn Hữu Tín hiện nay đang sống tại Tp. Hồ Chí Minh

Vài nét chính về ngôi Chùa An Lạc

Tại một tam quan kiến trúc đơn giản có mái che, ngay đầu hẻm số 175 đường Phạm Ngũ Lão, quận 1, từ đây, khách thập phương có thể nhìn thấy bóng dáng chùa với hai trùng mái cùng với một lầu chuông mái đỏ, vẫn cố nổi lên trong một khu vực chen chúc những khách sạn mới xây dựng đã và đang che khuất đi nhiều vẻ mỹ quan xưa kia của chùa.

chua 01
Chánh điện

Chùa An Lạc xây dựng từ năm 1970 và hoàn thành năm 1972. Lễ khánh thành chùa vào ngày 19.02 là ngày vía Bồ Tát Quan Âm cùng năm đó (1972). Tác giả bản vẽ kiến thiết chùa là kiến trúc sư Phật tử Nguyễn Hữu Tín hiện đang sinh sống tại Tp. Hồ Chí Minh.

chua 02
Sơ đồ kiến thiết chùa An Lạc

Tiền nhiệm trụ trì là Cố Hòa Thượng Thích Quảng Thạc đạo hiệu Tuấn Đức, viên tịch ngày 06.12 năm Ất Hợi (1996).

chua 03
Hòa Thượng thượng Quảng hạ Thạc

Chùa có trải qua một lần trùng tu (1991) xây thêm nhà thờ Vong, bảo tháp thờ Xá Lợi Phật và thờ Xá Lợi Cố Hòa Thượng tiền nhiệm. Tuy xây dựng theo lối kiến trúc mới nhưng chùa vẫn duy trì và tôn trọng những nét cổ kính truyền thống cấu trúc của một ngôi chùa cổ. Chùa có hai tầng: tầng trệt là nhà khách thập phương; tầng một là nhà Tổ; tầng hai là Chánh điện thờ Phật, Bồ Tát và có thêm một gác chuông tọa vị phía ngoài, đối diện với Chánh điện. Nơi đây, chính là một đặc điểm kiến trúc khác biệt của chùa. Tất cả tầng hai, tầng một, tầng trệt và cổng đều có câu đối chữ Việt hoặc chữ Hán riêng biệt cho từng khu vực:

1. Chánh điện:

– Câu đối thờ Phật (chữ Hán):

. An tam giới cứu tứ sinh giác phụ tùy cơ ứng dụng tam xa siêu hỏa trạch;
. Lạc nhất thừa thông nhị đế hùng sư phương tiện hoằng khai vạn pháp triệt tâm nguyên.

Dịch nghĩa:

. Yên ba cõi cứu bốn loài bậc giác phụ tùy cơ bày ba xe thoát khỏi nhà lửa;
. Vui nhất thừa hiện nhị đế đấng hùng sư phương tiện mở muôn pháp thấy suốt nguồn tâm.

– Câu đối thờ Bồ Tát Quan Âm và Địa Tạng (chữ Việt):

. Giọt nước từ bi rưới tắt lửa oán thù trong ức kiếp;
. Ánh đèn trí tuệ sáng soi đường mê vọng khắp muôn phương.

– Câu đối gác chuông (chữ Việt):

. Trống pháp giục vang trời thức tỉnh hồn mê trong chín cõi;
. Chuông vàng rung dậy đất khua tan giấc mộng khắp mười phương.

2. Nhà Tổ:

– Câu đối thờ Tổ (chữ Hán):

. Tuệ nghiệp tương thừa giác uyển tường quang hoa lộ tiếu;
.  Hồng qui khắc thiệu thiền lâm thụy khí diệp truyền phương.

Dịch nghĩa:

. Tuệ nghiệp truyền trao vườn giác sáng chưng hoa hé nụ;
. Hồng qui tiếp nối rừng thiền mát mẻ lá đưa hương.

– Câu đối cửa nhà Tổ ( chữ Việt):

. Cửa kiến tính ra vào nối gót tổ tông ngời đất Bắc;
. Nhà minh tâm gây dựng khêu đèn Phật Tuệ rạng trời Nam.

3.- Nhà khách:

– Câu đối cửa nhà khách ( chữ Việt):

. Tới cửa từ bi hương giải thoát ngạt ngào muôn ý sống;
. Vào chùa An Lạc tâm chân như bừng sáng mọi người vui.

4.- Cửa chùa: ( chữ Hán)

. An quốc an dân pháp vũ tư bồi xã tắc;
. Lạc nhân lạc cảnh từ quang chiếu diệu sơn hà.

Dịch nghĩa:

. An quốc an dân cơn mưa pháp thắm tươi xã tắc;
. Vui người vui cảnh ánh sáng Phật rực rỡ sơn hà.

Cổng chùa

Ngoài ra, có những bức phù điêu đắp nổi hai bên tường cổng vào chùa. Bức bên trái, tả cảnh hai con chim đậu bên cành mai, có tháp thờ chín tầng. Bức bên phải, tả cảnh đôi nai đứng dưới cành thông già. Tất cả hai bức này đều được thực hiện có tính ước lệ trang trí. Nhưng chưa hết, phải kể đến một tác phẩm phù điều khác nữa giúp phần lớn cho bối cảnh Chánh điện thêm thâm u tịch tĩnh và gây nên sức thuyết phục cho tâm hồn khách thập phương, đó là gốc bồ đề với cành lá xum xuê vươn ra hai bên trông giống như cảnh thật. Đó là đặc điểm nội thất thứ hai. Tiếp đến, cũng không được quên đến hai một công dụng được tạo ra bởi bức tường cổng chùa có lợp mái hai trùng, hai bên nóc tường trên cao có hai cỗ sư tủ ngồi chầu, phía dưới mái ở chính giữa có một phù điêu đắp nổi ba chữ Hán lớn  ‘An lạc Tự’  sơn màu nâu đen. Mà công dụng được nói đến kia là gì? Chính là thế giới được chia ra thanh và tục, tạo nên một không khí tĩnh mịch của chốn già lam, mà điểm này ít được ai lưu ý khi đến nơi đây. Đó cũng là đặc điểm thứ ba về kiến trúc, và trong khi đó, khu vưc bao quanh chùa mỗi lúc càng trở nên nhộn nhịp thêm thì con đường dẫn từ cổng chính đến chùa đã mất đi nhiều thầm lắng biết bao nhiêu(!). Mặc dù lộ giới của nó được mở rộng thêm vào cuối năm 2004 thì cũng chỉ là giúp cho cường độ ồn ào nhiều hơn. Chính trên con đường này năm xưa có một nhà thơ bách bộ lễ chùa đã cảm tác bài thơ Vịnh Chùa và ca tụng công đức Cố Hòa Thượng tiền nhiệm lúc ngài còn tại thế:

Đây Chùa An Lạc giữa Đô Thành
Tới đó, nghe lòng bỗng tịnh thanh
Kinh điển phát huy nền đạo lý
Điện đài tỏa rạng ánh quang minh
Pháp môn giảng dạy nhuần chân cảm
Thi phú bình ngâm thấu ý tình
Quảng Thạc Thiền Sư danh sáng tỏ
Tâm từ, trí dũng đọ quân sinh.
(Vịnh Chùa An Lạc – Tôn Nữ Hỷ Khương, 1988)

Qua bài thơ này, chân dung ngôi Chùa An lạc hiện dàn lên rõ và lại càng thơ mộng u tịch hơn qua một bài thơ chữ Hán khác, tác giả đề tặng là Hòa Thượng Hoài Đức và dịch giả là Cố Hòa Thượng Quảng Thạc:

An Lạc thành chi diệu tuyệt luân
Cổ lai danh thắng tồng do nhân
Sài thành bảo địa gia sơn cựu
Phạm vũ quỳnh đai cảnh sắc tân
Lục thuỷ kỳ hoa song mãn tọa
Thương ngô bạch thạch bách ban xuân
Quang tiền diệu hậu thiên thu tại
Dữ thế gian vô bán điểm trần.

Dịch Thơ:   Đây Chùa An Lạc tuyệt vời

Xưa nay thắng cảnh do người tạo nên
Sài Thành đất quyện khí thiêng
Nền căn nhà cũ hiện lên lâu đài
Tháng ngày cây cỏ đơm tươi
Với bao vẻ đẹp hoa cài thêm xuân
Vẻ vang sau trước xa gần
Phật đài thanh tịnh lòng trần sạch lâng.

Nhưng những nét đẹp chấm phá thoát tục về cảnh chùa này, được ca ngợi trong những bài thơ trên đây thì đã thuộc một quá khứ xa xưa, còn hôm nay, trong khung cảnh mới, giữa một khu vực đời thường được gọi là Phố Tây du lịch, thì số phận tâm linh tương lai của nó sẽ ra sao, trong suy nghĩ của một khách hành hương từ xa đến!?

Nhật Minh (2004)