Trang chủ 01-Chùa An Lạc Lễ Phật đản PL 2562 – DL 2018 tại chùa An Lạc

Lễ Phật đản PL 2562 – DL 2018 tại chùa An Lạc

187
0

Lễ Phật đản PL 2562 – DL 2018 tại chùa An Lạc

Theo truyền thống Phật giáo, hàng năm vào ngày 15 tháng tư Âm lịch, cùng với Phật tử trong cả nước và Thế giới, Chư Tăng và Phật tử chùa An Lạc long trọng tổ chức Lễ Phật Đản.

Từ những ngày đầu tháng tư các chùa đã treo đèn kết hoa để đón mừng mùa Phật đản.

PD_01a

PD_01b

PD_01c

Và cắm hoa trong chùa

A_01

A_02

A_03

A_04

A_05

A_06

A_07

A_08

A_09

A_10

A_11

Chương trình buổi lễ năm nay 15 tháng 4 Mậu Tuất (29-5-2018) tại Chùa An Lạc gồm 2 phần:

I      – LỄ MỘC DỤC KHÁNH ĐẢN NẢM 2018 PL. 2562 (tại Tháp)
1.         Đọc lời dẫn
2.         Lễ Tháp – Dâng hương – Sái tịnh
3.         Múa Dâng hoa cúng dường
4.         Lễ Tắm Phật
5.         Nhiễu Phật tháp, dâng hoa trà quả, phóng sinh.
6.         Hồi hướng
7.         Cung thỉnh Chư Tôn Đức hồi qui phương trượng mời Quý Phật tử vào Chánh Điện chờ Khóa Lễ Phật Đản.

II.       – LỄ PHẬT ĐẢN CHÍNH THỨC (trong Chánh Điện)
1.         Đọc lời dẫn
2.         Nhạc Lễ Phật Giáo Việt Nam
3.         Dâng hương – Nhạc lễ trầm hương
Bài giảng về Ngày Phật Đản:
(Chủ đề : Đức Phật Đản Sinh Từ truyền thuyết đến lịch sử)
4.         Khóa Lễ Phật Đản
5.         Hồi hướng – Tự qui.

Phần I: Lễ Mộc dục (tắm Phật) tại Tháp.

-Cung nghinh Chư Tôn Đức

PD_01d

-Đọc lời dẫn

PD_02

Khi còn tại thế, Đức Thế Tôn thuyết trong Kinh Anguttara Nikaya (Tăng Nhất A-Hàm) rằng: Có một con người siêu việt xuất hiện ở đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì lòng thương tưởng thế gian, Trời và Người… Người đó là ai?… Đó chính là Đức Như Lai, Bậc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Thật vậy, Đức Phật là một người có thật trong lịch sử nhân loại, đản sinh vào ngày trăng tròn tháng Vesakha năm 623 trước Dương lịch tại vườn Lumbini, gần thành Catỳlavệ, đã thành đạo dưới cội Bồ Đề khi sao mai vừa mọc, bên dòng sông Neranjara, đã chuyển pháp luân đầu tiên tại vườn Lộc Uyển (Isipatana) và sau cùng nhập diệt tại Câu Thi Na, trong một cánh rừng, ở giữa hàng cây Sala.

Đến nay, qua hơn 2500 năm, tiếng pháp trên hội Linh Sơn vẫn vang vọng thấu nỗi thống khổ của con người : đây là khổ, đây là khổ tập, đây là khổ diệt và đây là con đường diệt khổ. Toàn thể giáo pháp của Đức Phật chỉ bao gồm trong một câu đơn giản : Đây là sự khổ và đây là con đường đưa đến diệt khổ, và trước sau, Như Lai chỉ là một bậc thầy mà thôi.

Để kết thúc buổi lễ hôm nay một bài thơ tựa đề “Mừng Phật Đản” – tác giả là Cố Hòa Thượng Thích thượng Quảng hạ Thạc – được đọc lên để cúng dường ngày kỷ niệm Phật Đản sinh PL. 2556.

        Mừng Phật Đản
Ba ngàn thế giới ngợp mừng vui
Đón Đấng Từ Tôn xuống cõi đời
Thành Xá ca vang tuôn sóng nhạc
Vườn Lam hoa nở nức hương trời
Nô Ma im bặt căm hờn sóng
Hy Mã thầm reo cứu độ lời
Chân lý thần đăng ngời vạn thuở
Soi đường dẫn lối khắp muôn loài.
Quảng Thạc
1964

-Lễ Tháp, dâng hương, sái tịnh

PD_03

PD_04

-Múa Dâng hoa cúng dường

PD_05

PD_06

-Lễ tắm Phật

PD_07

PD_07b

PD_07c

-Nhiễu tháp, dâng hoa, trà, quả

PD_08

PD_09

-Hồi hướng

PD_10

Phần II; Lễ chính thức tại Chánh điện

-Cung nghinh Chư Tôn Đức

PD_13

-Đọc lời dẫn:

PD_13a

Truyền thống Phật Giáo kể rằng khi đản sinh trong vườn Lumbini với vô vàn kỳ hoa dị thảo, Đức Phật bước đi bảy bước về mỗi hướng và bàn tay phải giơ lên trời cao theo thế thủ ấn vô úy (Abhayamudra), còn bàn tay trái kia chỉ xuống dặm đất rộng thênh thang khổ lụy theo thế ấn thể nguyện (Varadamudra). Hàm ý tượng trưng đó là: ‘Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn’. Đức Thế Tôn là bậc tôn quí nhất trong 3 cõi đời: cõi Dục, cõi sắc và còi Vô Sắc. Và sự đản sinh này thật ra không phải chỉ bắt đầu vào một thời điểm ấn định lịch sử mà trái lại vẫn tiếp tục có mặt trong từng giây, từng phút, từng ngày trên nỗi thống khổ của con người như mặt trời vẫn phải mọc ở phương Đông chiếu sáng thế gian.

-Nhạc lễ Phật giáo

PD_14

-Dâng hương, nhạc lễ Trầm hương:

PD_15

PD_16

PD_17

-Bài giảng của HT. Thích Thanh Tùng về ngày Phật đản: “Đức Phật đản sinh-Từ truyền thuyết đến lịch sử”

PD_19

Đức Phật Đản Sinh là một sự kiện quan trọng để làm thay đổi thế giới. Dồ hiểu sự kiện này hoàn hảo, cần phải nhìn sâu vào truyền thuyết về nó trước khi có cái nhìn xác nhận từ góc độ lịch sử

*Đức Phật Đản Sinh nhìn từ truyền thuyết

Nói đến truyền thuyết là nói đến khái niệm thời gian được gọi là kiếp trong Phật Giáo, qua đó biết bao câu chuyện tiền thân xẩy ra được kể lại từ trí tuệ túc mạng cùa Đức Phật từ lúc mới thành dạo. Nổi tiếng nhất là truyền thuyết về bảy đóa scn khi Phật Đản Sinh. Vậy kiếp là gì?

Thời gian truyền thuyết

Để thành một Đức Phật cần phải có vô lượng thời gian hay vô số kiếp để tu tập. Kiếp là một thuật ngữ thời gian của Phật Giáo; được dịch là thời kì rất dài không thể lấy năm tháng ngày giờ thông thường được. Kiếp có 2 loại: Một là số lượng thời gian lập ra căn cứ vào sự thành tựu của thế giới, như: Thành kiếp, hoại kiếp, trụ kiếp, không kiếp, tăng kiếp, giảng kiếp; Hai là, kể theo số lượng thời gian ngày tháng. Có khi lấy đá núi, hạt cải để gọi tên kiếp cho dễ hiểu là kiếp đá núi, kiếp hạt cải. Như trong Trí Độ Luận nói về kiếp đá núi: Có ngọn núi đá dài bốn chục dặm và có một người trường thọ, cứ mỗi khi được thọ thêm một trăm tuổi, lại lấy áo vải mềm lau ngọn núi một lần, cho đến khi ngọn núi đó muốn mòn hết, mà kiếp vẫn chưa hết. Còn trong kinh Bồ Tát Anh Lạc Bản Nghiệp thuyết minh thế nào là một tiểu kiếp, trung kiếp và đại kiếp: Ví như ngọn núi dài một dặm, hai dặm, cho đến mười dặm, lấy áo trời nặng ba thù, lấy số ngày tháng trong ba năm của đời người lau ngọn núi đó, ngọn núi đó mòn hết thì gọi là một tiếu kiếp. Lại nữa, có ngọn núi dài tám chục dặm, lấy áo Phạm Thiên nặng ba thù, lấy số ngày tháng trong ba năm của cõi trời Phạm Thiên mà lau, ngọn núi mòn hết, gọi là một trung kiếp. Lại nữa, ngọn núi dài tám trăm dặm lấy áo trời Tịnh Cư nặng ba thù, lau trong ba năm theo ngày tháng cõi trời Tịnh Cư, ngọn núi đó mòn hết gọi là một đại kiếp. Đại, trung, tiểu kiếp có hai loại: là kiếp tăng, người thọ từ mười tuồi, qua một trăm năm lại tăng một tuổi cho đến tám vạn bốn ngàn tuổi là một tiểu kiêp; là kiếp giảm, người thọ từ tám vạn bốn ngàn tuổi qua một trăm năm lại giảm một tuổi cho đến khi người ta chỉ còn mười tuổi là một tiểu kiếp. Cộng kiếp tăng và kiếp giảm là một trung kiếp. Khoảng thời gian của bốn thời kì thành, trụ, hoại, không, mà mỗi thời kì trải qua 20 trung kiếp thành 80 trung kiếp là một đại kiếp. Trong khi trụ kiếp quá khứ gọi là trang nghiêm, trụ kiếp tương lai là tinh tú, trụ kiếp hiện tại là hiền kiếp. Theo kinh luận, chư Phật thường xuất hiện vào thời gian của trụ kiếp và câu truyện truyền thuyết về bảy đóa sen Đản Sinh cũng bắt đầu từ đây.

Truyền thuyết bày đóa sen Đản Sinh

Gần cuối đời, Phật thuyết bộ kinh quan trọng là Diệu Pháp Liên Hoa Kinh. Liên Hoa tức là hoa sen biểu tượng cho Diệu Pháp chính là Đức Phật. Khi Phật Đản Sinh ở Lumbini, ngài bước trên bảy đóa sen xuất hiện đỡ dưới chân và dừng tại đóa sen thứ bảy, nhìn bốn phương trời và thốt lên âm thanh sư tử hống chấn động trời đất:

Ta đản sinh vì sự giác ngộ
Vì hạnh phúc cho trời người
Thân này là thân cuối của ta

Khi đọc sâu vào truyền thuyết cho ta biết có bảy Đức Phật lần lượt ra đời trong thời gian quá khứ và hiện tại. Ở đây câu chuyện kể khá dài:

-Hoa sen thứ nhất, Phật Tì Bà Thi. Đức Phật thứ nhất trong bảy Đức Phật xuất hiện trong kiếp Trang Nghiêm. Khi còn tu một trăm kiếp, Đức Thích Tôn đã được thấy vị Phật này ngồi trang nghiêm trong khám báu, tỏa hào quang rực rỡ, bèn đứng kiễng một chân suốt một ngày một đêm để khen ngợi ngài. Ngài thuyết giới kinh: Nhẫn nhục đạo thứ nhất, Phật nói pháp vô vi là hơn, xuất gia não phiền người, thì chẳng là sa môn.

-Hoa sen thử hai, Phật Thi Khí. Theo kinh Đại Bản, Đức Phật Thi Khí xuất hiện vào kiếp 31 ở quá khứ, bấy giờ con người sống lâu bảy vạn tuồi, họ của ngài là Câu Lợi Nhã, cha là minh tướng thuộc dòng Sát Đế Lợi, mẹ là Quang Diệu. Ngài thành chánh giác dưới gốc cây Phân Đà Lợi. Ngài thuyết giới kinh: Thí như người mắt sáng, hay tránh đường hiểm trở, trong đời có người thông minh, hay xa lìa các điều ác.

-Hoa sen thứ ba, Phật Tì Xá Phù. Đức Phật thứ ba trong bảy Đức Phật thời quá khứ cũng là Đức Phật xuất hiện sau cùng của một ngàn Đức Phật của kiếp Trang Nghiêm. Theo trường A Hàm, Đức Phật này xuất hiện ở kiếp 31 quá khứ, lúc bấy giờ, con người sống lâu sáu vạn tuồi, cha là Thiện Đăng, mẹ tên Xứng Giới, vương thành thời ấy tên Vô Dụ. Đức Phật thành đạo dưới gốc cây Sa La. Ngài thuyết giới kinh: Không chê cũng không ghét, nên vâng giữ giới luật, uống ăn biết vừa đủ, thường ở chỗ không nhàn, tâm định luôn tinh kiến, là lời chư phật nói.

-Hoa sen thứ tư, Phật Câu Lưu Tôn. Là Đức Phật thứ tư của bẩy Phật quá khứ, cũng là vị Phật thứ nhất trong ngàn Đức Phật ở kiếp hiện tại, xuất hiện khi con người thọ bốn vạn tuổi. Phật, gốc dòng Bà La Môn, họ Ca Diếp, cha tên Tứ Đức, mẹ tên Thiện Chí thành đạo dưới gốc cây Thi Lị Sa. Cao Tăng Pháp Hiển truyện có chép di tích ngài. Đức Phật này cùng với Phật Tì Bà Thi, Phật Câu Na Hàm Mâu Ni với Đức Thích Tôn gọi chung là bảy vị Phật quá khứ. Ngài thuyết giới kinh: ví như ong hút mật, không làm hư sắc hương, chỉ lấy vị nó mà đi, tì khiêu vào trong làng, đừng chống trái việc người, không xem cũng chẳng làm, chỉ xem việc làm mình, hoặc đúng hoặc chẳng đúng.

-Hoa sen thứ năm, Phật Câu Na Hàm Mâu Ni. Là Đức Phật thứ năm của bảy Đức Phật quá khứ, Phật thứ hai trong một ngàn ở kiếp hiện tại. Phật ra đời khi con người sống lâu ba vạn tuổi. Phật ờ thành Thanh Tịnh, dòng Bà La Môn, họ là Ca Diếp. Cha tên Đại Dức, mẹ tên Thiện Thắng, Phật thành đạo dưới gốc cây ô Tạm Ba La. Đại Đường Tây Vực kí có chép nơi thờ xá lợi của vị Phật này. Phật thuyết giới kinh: Tâm đừng làm buông lung, pháp Phật nên siêng học, như thế không lo buồn, tâm định như niết bàn.

-Hoa sen thứ sáu, Phật Ca Diếp. Là Đức Phật thử sáu trong bảy Phật quá khứ, cũng là Phật thứ ba trong một ngàn Đức Phật ở kiếp Hiền, theo truyền thuyết, đời trước, ngài là thầy của Đức Phật Thích Ca đã nói trước Đức Thích Ca tương lai sẽ thành Phật. Phật ra đời khi con người hai vạn tuổi. Ngài họ Ca Diếp, thành Phật dưới gốc cây Câu Ni Luật. Ngài thuyết giới kinh: Tất cả việc xấu chớ làm, nên vâng làm điều tốt, tự tịnh ý chí của mình, ấy là lời chư Phật dạy.

-Hoa sen thứ bảy, Phật Thích Ca Mâu Ni. Lại theo Phẩm Hóa Thành Dụ, trong kinh Pháp Hoa, trong một kiếp lâu xa có Đức Phật hiệu Đại Thông Trí Thắng Như Lai khi chưa xuất gia, ngài có 16 vương tử, sau này đều xuất gia làm sa di, khi được nghe kinh Pháp Hoa đều thành Phật; trong đó, vị vương từ thứ 10 chính là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni sau này. Trước khi Đản Sinh cõi này, Phật ở cung trời Đâu Suất, ngài đã chọn cha là vua Suddhodana, và mẹ là thánh hậu Maya ở nước Kapilavasthu. Nhập thai qua giấc mộng bạch tượng sáu ngà. Đến đây, truyền thuyết nhường cho lịch sử.

*Đức Phật Đản Sinh nhìn từ lịch sử

Trước đó, hầu như sự Đản Sinh cùa Đức Phật chỉ biết qua thần thoại như trong Luận Duyên Khởi (Nidanakatha) kể lại câu chuyện hoàng hậu Maya trên đường từ Kapilavasthu về quê nhà Devadaha. Đến gần Lumbini, và dừng lại nghỉ và khi đứng dưới tàn cây Sa La Bà đưa tay lên vịn cành hoa, thì Đức Sidhatha Đản Sinh. Nhưng còn lịch sử sẽ nói gì về ngài.

Đức Phật có thật trong lịch sử

Chỉ đến năm 1896, Lumbini mới được lịch sử xác nhận là nơi Đức Phật Đản Sinh, khi các nhà khảo cổ khai quật và tìm thấy nơi đây một di chỉ thạch trụ cao 6m50 do hoàng đế Asoka dựng năm 245 trước công nguyên với dòng chữ cổ Brahmi được dịch như sau:

Hai mươi năm năm sau khi lên ngôi quốc vương Devanampiya Piyadasi (Thiện ái thiện kiến tức vua A Dục) ngự đến đây chiêm bái vì Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, bậc hiền nhân của bộ tộc Thích Ca, đã Đản Sinh tại đây. Nhà vua ban lệnh khắc một tượng bằng đá và dựng một thạch trụ. Ngài miễn thuế ở làng Lumbini và giảm thuế hoa lợi tức từ 1/4 theo lệ thường xuống 1/8.

Hơn nữa, trong một sử liệu khác, nói một phiến đá có lẽ xuất hiện vào thế kỉ thứ 6 trước công nguyên được tìm ra ở Lumbini và được lưu trữ tại một ngôi chùa nhỏ địa phương. Phiến đá cho thấy hình hoàng hậu Maya sinh thái tử trong lúc đứng dưới gốc cây. Hình như sinh con trong tư thể đứng là một phong tục thời ấy.

Như thế, niên đại Đản Sinh thực sự là năm nào. Thật ra niên đại Đản Sinh có nhiều nguồn thuyết khác nhau.

Niên đại Đản Sinh

Khi nghiên cứu về vấn dề này, các sử gia tây phương đều cho rằng năm 563 trước công nguyên là thích hợp năm Đức Phật Đản Sinh và cũng là niên đại sớm nhất được thừa nhận.

Tuy nhiên, trước đó, theo đảo sử (Dipavamsa) và Đại sự (Mahavamsa) cho rằng vua Asoka lên ngôi sau Đức Phật Diệt Độ khoảng 218 năm, trong khi Đức Phật sống đến 80 tuổi, vậy thì năm Đàn Sinh của Phật phải là 563 trước công nguyên.

Còn theo một số tư liệu khác như sắc dụ hoàng đế Asoka, tính ra năm Dức Phật Đản Sinh là 568 trước công nguyên. Điểm Sử Kí của Quảng Châu cho rằng năm sinh của Đức Phật là 566 trước công nguyên. Truyền thông của đạo Jain, cho biết vị giáo chủ đạo này sống cùng thời với Đức Phật nên năm sinh của Phật là 563 trước công nguyên.

Ngoài ra các biên niên sử của Châu Á thường cho rằng năm sinh của Phật là 624 trước công nguyên và Phật lịch chỉ bắt đầu có từ thế kỉ thứ 11. Như vậy, căn cứ các tư liệu trên năm sinh của Phật là vào thế kỉ thứ 6 trước công nguyên.

Sự Đản Sinh của Đức Phật được xác minh thêm bởi bài pháp giảng đầu tiên của Phật tại Samath ngày nay trước kia là Isipatana.

Bài pháp đầu tiên lịch sử

Hiện ở Sarnath còn di tích một bảo tháp Chuyển Pháp Luân là chứng cứ xác minh Đức Phật đã giảng pháp lần đầu tiên ở đây, vào một đêm trăng sáng cho các thánh đệ tử. Bài pháp nói về con đường giữa nói về nỗi thống khổ đời người, nói về con đường kết thúc sự đau khổ. Kết thúc bài pháp này, Phật nhấn mạnh đây cũng là thân cuối cùng của Đức Phật ở thế gian.

Như vậy, Đức Phật đã trải qua bao nhiêu vô lượng kiếp lâu xa dường như không có thời gian để tư duy về tính chất khổ đau và chỉ đến thân cuối này Phật mới đạt được vô thượng chánh giác dưới cây Bồ Đề khoảng 528 trước công nguyên và qua mấy ngàn năm thăng trầm của lịch sử, Đức Phật vẫn là chủ đề chính tôn quý cùa đạo Phật ngày nay.

Hôm nay, nhân mùa Phật Đản Phật lịch 2562, Phật tử chúng ta đọc lại câu chuyện Đức Phật Đản Sinh nhìn từ truyền thuyết và lịch sử để chắp tay cầu nguyện một hành tinh xanh tràn đầy yêu thương và đất nước ta thanh bình đi lên trong giấc mơ đồi mới.

    Chùa An Lạc Mùa Phật Đản 2562 – 26.5.2018 Thích Thanh Tùng

-Khóa lễ Phật đản:

PD_20

PD_15

-Quy y cho Phật tử

PD_21

-Dâng lời ca ngợi Phật, Pháp, Tăng

Ca sỹ Trương Mạnh Quân: Quý kính Phật Đà và Chiều xuân xa nhà

PD_22

Ca sỹ Zen Vũ Hoàn: Về quê và Ân đức sinh thành.

PD_23

Cuối cùng mọi người vui vẻ thụ lộc chay

PD_24

PD_25

Xin mời quý vị xem video clip dưới đây:

                                                                                            BBT Website Chùa An Lạc